Ngày nay chúng ta đều là tư bản nhà nước

1.10- NGÀY NAY CHÚNG TA ĐU LÀ TƯ BẢN NHÀ NƯỚC.

(We’re all State capitalists Now)

Niall Ferguson

Giáo sư ĐH Harvard

Foreign Policy – Feb 9-2012

Cuộc tranh luận để coi xem liệu nước Mỹ hay Trung Quốc sẽ chiến thng, là một “con cá trích đỏ”, mục tiêu đánh lạc hướng chúng ta trong cuộc đua tranh thực sự hiện nay.

Nếu các ứng cử viên Tổng thống Mỹ có đồng ý chung với nhau về một vấn đề, thì đó là vai trò lãnh đạo của Mỹ trên thế giới sẽ tồn tại. Mitt Romney nhấn mạnh rằng bây giờ không phải là thế kỷ hậu Mỹ. Trong lúc Barack Obama trong bài Diễn văn về Tình hình liên bang đã nói rằng : “Nếu ai nói khác đi, nếu ai nói với bạn là nước Mỹ đang suy tàn, là ảnh hưởng của chúng ta đang yếu đi, thì đó là những người không hiểu những điều họ nói”. Họ sẽ hồi hộp khi nghe những điều này tại Bắc Kinh”.

Sự hồi sinh của Trung Quốc đã tạo nên một thách thức cho sức mạnh của Mỹ, nhất là trong khu vực Thái Bình Dương. Đã có lúc điều này trở thành hiển nhiên cho những ai đang nói tới nó. Vấn đề thật ra là liệu nước Mỹ có tìm ra được câu trả lời đáng tin không. Liệu họ nên áp dụng một phiên bản của “lý thuyết bao vây” mà George Kennan (1) đã đề nghị để đối phó với sự thách thức của Liên Xô vào năm 1945 ? Hay một chiến lược khác, tinh vi hơn, giống như “lý thuyết cùng tiến hóa” của Bộ trưởng Ngoại giao Henry Kissinger đề nghị (1B) ?

Bỏ qua một bên những tính toán quân sự và ngoại giao, chúng ta chỉ bàn tới thách thức kinh tế mà Trung Quốc đang tạo ra cho nước Mỹ. Đây không phải là vấn đề tầm vóc, mặc dù tầm vóc không phải là vấn đề nhỏ. Theo báo cáo của IMF, GDP của Trung Quốc sẽ vượt qua nước Mỹ trong 4 năm nữa, nếu tính theo sức mua tương đối. Đây cũng không phải là vấn đề tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc, mặc dù các quốc gia xuất khẩu của châu Á khi phải lựa chọn giữa Trung Quốc và Mỹ, họ có khuynh hướng chọn Trung Quốc. Thương mại giữa các quốc gia này và Trung Quốc tăng rất nhanh so với thương mại giữa họ và Mỹ . Nhưng theo một số nhà bình luận, sự ganh đua giữa hai siêu cường Á Châu (Mỹ và Trung Quốc) cơ bản là sự ganh đua về mô hình kinh tế : giữa chủ nghĩa tư bản thị trường và chủ nghĩa tư bản Nhà nước.

Vào tháng 1-2012, tại diễn đàn Hội nghị Davos ở Thụy Sĩ, David Rubenstein của Công ty Carlyle đã phát biểu một ý kiến mà nhiều người đang nghĩ: “mô hình tư bản nhà nước của Trung Quốc đã tiến nhanh hơn mô hình tư bản thị trường của Mỹ. Rubeinstein nói: “Chúng ta phải giải quyết vấn đề này.

Nếu chúng ta không làm, trong ba bốn năm nữa … trò chơi sẽ chấm dứt, cho mô hình tư bản mà nhiều người chúng ta đã sống trong đó, và đã nghĩ rằng đó là mô hình tốt nhất”. Theo ý tôi, ý kiến này hoàn toàn sai lạc. Nhưng cũng nên suy nghĩ là tại sao ngày nay, nhiều người có ảnh hưởng cũng chấp nhận ý kiến này ?

Chắc chắn trong 5 năm vừa qua, chủ nghĩa tư bản thị trường đã có nhiều khó khăn. Các bạn chắc còn nhớ tới sự đồng thuận Washington (2) ? Đó là danh sách 10 điều phải làm để Mỹ hóa những nền kinh tế mới nổi, được đưa ra từ những năm 1990. Chính phủ Mỹ và các định chế tài chính quốc tế yêu cầu các quốc gia này phải có kỷ luật tài khóa, và phải giảm bớt thâm hụt ngân sách quốc gia. Mở rộng cơ sở thâu thuế, và giảm bớt thuế suất. Để cho thị trường quyết định về lãi suất và tỉ giá hối đoái, tự do hóa thương mại và luồng chảy tư bản. Khi các nền kinh tế châu Á gặp khủng hoảng 1997-98, những nhà bình luận Mỹ đã làu bàu chê sự thiếu sót của mô hình “tư bản bắt chước” (crony capitalism) của khu vực này, và hình như họ thấy là lịch sử chứng minh là họ đúng.

Tuy thế ngày nay, sau cuộc khủng hoảng tài chính lớn nhất của Mỹ (2008) kể từ cuộc Đại khủng hoảng (1929), thế giới đã thay đổi hẳn. Không những cuộc tan rã của thị trường tài chính vào năm 2008-2010 đã chỉ cho thấy rõ tính chất yếu ớt cơ bản của hệ thống tư bản chủ nghĩa, mà còn cho thấy Trung Quốc có khả năng đứng vững trước cú sốc của sự sụp đổ của Wall Street. Điều này cho thấy khả năng một “Đồng thuận Bắc Kinh” (3) dựa trên kế hoạch hóa tập trung và kiểm tra của nhà nước trên những lực bất ổn của thị trường.

Trong cuốn sách “Sự cáo chung của thị trường tự do” (4) lan Bremmer của Nhóm Công ty Eurasia đã cho rằng chính phủ chuyên chế trên khắp thế giới đã “phát minh ra một cái mới : Chủ nghĩa tư bản nhà nước”.

Trong hệ thống này, chính phủ sử dụng đủ mọi loại công ty quốc doanh để quản lý sự khai thác các nguồn lực kinh tế. Và họ cho rằng các công ty quốc doanh này là những hạt kim cương trên vương miện của nhà nước, và tạo ra và giữ được rất nhiều công ăn việc làm. Họ sử dụng một số công ty tư nhân được lựa chọn để ngự trị một số khu vực kinh tế nào đó. Họ sử dụng những quỹ tự chủ để đầu tư số tiên dư thừa, có mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của nhà nước. Trong cả ba trường hợp, nhà nước sử dụng thị trường để tạo ra của cải, và của cải này được các viên chức chính trị sử dụng theo tính toán của họ.

Và trong cả ba trường hợp, động lực cuối cùng không phải là kinh tế (tạo ra tăng trưởng cao nhất) mà là chính trị (tối đa hóa quyền lực của nhà nước và duy trì sự sống còn của lãnh đạo). Đó là một hình thức của chủ nghĩa tư bản, nhưng trong đó. nhà nước giữ vai trò người làm kinh tế thống soái, và sử dụng thi trường để chủ yêu phục vụ lợi ích chính trị.

Đối với Bremmer, chủ nghĩa tư bản Nhà nước đặt ra “mối đe dọa” nghiêm trọng không những cho mô hình thị trường tự do, mà còn cho cả nền dân chủ trong các nước đang phát triển.

Mặc dù lý luận này được dùng cho mọi nhà nước trên thế giới, nhưng cội rễ của lý luận này là nhắm vào Trung Quốc. Chính Bremmer cũng viết : “Trung Quốc nắm chắc chìa khóa” (Trung Quốc là người quyết định). Nhưng liệu có đúng không khi coi sự thành tựu của Trung Quốc là nhờ ở nhà nước hơn là nhờ vào thị trường ? Câu trả lời là tày theo địa phương bạn đến thăm viếng ở Trung Quốc. Tại Thượng Hải và Trùng Khánh, ví dụ, hình bóng của chính quyền trung ương hiện ra to lớn. Nhưng tại Ôn Châu (phía nam Thượng Hải), nền kinh tế lại hoàn toàn mang tính kinh doanh và do thị trường quyết định, giống như những tỉnh khác mà tôi đã được thăm viếng.

Đúng, nền kinh tế Trung Quốc tiếp tục được quản lý trên cơ sở những kế hoạch 5 năm, một truyền thống bắt nguồn từ thời đại Joseph Stalin. Tuy nhiên, tôi đã viết, chính quyền Trung Quốc đang phải vật lộn với những khó khăn do các lực của thị trường gây ra chứ không phải với kế hoạch : Hậu quả của chính sách mở rộng tín dụng những năm 2009-2010 đã tạo ra bong bóng bất động sản tại các thành phố. Giữa những chuyên gia Trung Quốc, vấn đề đang được tranh cãi dữ dội là ảnh hưởng của hệ thống ngân hàng trong bóng tối trong những thành phố như Ôn Châu. Tại đây vào hồi năm ngoái, hệ thống này đã giúp cho các nhà đầu tư và nhà xây dựng có đủ tiền để xây dựng và bán các tòa nhà chung cư, mặc dù Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (Ngân hàng Trung ương Trung Quốc) đã hạn chế cho vay bằng cách tăng lãi suất, cũng như tăng tiền ký quỹ của các ngân hàng thương mại.

Nếu bạn nói chuyện với các kinh tế gia nổi tiếng của Trung Quốc, bạn sẽ có cảm giác là mục tiêu cuối cùng của chính sách Nhà nước là bãi bỏ toàn bộ chủ nghĩa tư bản nhà nước. Một kinh tế gia lãnh đạo của Trung Quốc đã nói với tôi trong một bữa tiệc ở Bắc Kinh một năm về trước : “Chúng tôi cần phải tư nhân hóa toàn bộ các công ty quốc doanh. Chúng tôi cũng cần tư nhân hóa ngay cả Đại lễ đường Nhân dân”. Ông ta cũng cho biết là đã phát biểu điều này với Chủ tịch Hồ Cẩm Đào. Ông nói một cách hãnh diện : “Ông Hồ không biết là tôi nói nghiêm túc hay là nói giỡn”.

Cuối cùng, không có lợi ích gì cả khi chia thế giới một cách giản đơn thành hai phe “tư bản thị trường” và “Tư bản Nhà nước”. Thực tế cho thấy là hầu hết các quốc gia đã đứng trong quang phổ với nhiều mức độ can thiệp khác nhau của Nhà nước, về cả hai phương diện ý định và tầm mức. Chỉ còn những người theo chủ nghĩa tự do cực đoan mới nói rằng Nhà nước không có vai trò gì cả trong nền kinh tế. Tôi ngưỡng mộ Adam Smith (5) và không phản đối lý luận của ông trong sách “Sự giàu có của quốc gia” (the Wealth of the nations), cho rằng chỉ có những quốc gia có luật lệ và định chế duy lý mới hưởng thụ được những ích lợi của tự do thương mại và phân công lao động. Tôi cũng đồng ý với nhà tư tưởng nhìn xa trông rộng Peter Thiel (6) của Silicon Valley là, trong những hoàn cảnh đúng lúc, (ví dụ trong thời chiến tranh), các chính phủ có khả năng định hướng và thúc đấy tốc độ thay đổi của công nghệ : Bạn hãy nhớ lại Dự án Manhattan (7).

Nhưng vấn đề hôm nay không phải là nhà nước hay thị trường phải có trách nhiệm lên nền kinh tế. Vấn đề thực sự là trong đất nước nào có được luật lệ và định chế hay nhất. Không những để đạt được sự tăng trưởng kinh tế nhanh, mà còn, cũng rất quan trọng, phân phối thành quả của sự tăng trưởng theo cách thức mà người công dân nghĩ rằng công bằng nhất.

Chúng ta hãy bắt đầu bằng một câu hỏi giản dị, mà người ta có thể trả lời bằng những dữ liệu đo được. Tại nơi nào trên thế giới, vai trò của nhà nước lớn nhất trong đời sống kinh tế ? Và tại đâu vai trò này nhỏ nhất ? Câu trả lời nằm trong báo cáo IMF về “Sự chi tiêu tổng quát của các chính phủ” tính theo phần trăm GDP. Tại một cực là các quốc gia như Đông Timor hay Iraq, chi tiêu của chính phủ vượt quá GDP của nước đó. Tại cực khác, các quốc gia như Bangladesh, Guatemala và Myanmar, chi tiêu rất thấp so với GDP một cách vô lý. Giữa hai cực đó, chúng ta có Trung Quốc, chi tiêu của chính phủ chiếm 23% GDP, giảm từ 28% GDP cách đây ba thập kỷ. Con số này cho thấy Trung Quốc đứng hàng thứ 147 trên tổng số 183 quốc gia có cung cấp dữ liệu. Nước Đức đứng hàng thứ 24, với chi tiêu của chính phủ chiếm 48% GDP. Nước Mỹ đứng hàng thứ 44, với 44% GDP. Qua những số đo này, chủ nghĩa tư bản Nhà nước là một hiện tượng ờ các quốc gia châu Âu, chứ không phải ở các quốc gia châu Á : Nước Áo, Bỉ, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Hy Lạp … tất cả đều có chi tiêu của chính phủ so với GDP cao hơn nước Đức. Con số của Đan Mạch là 58%, gấp hơn hai lần Trung Quốc.

Kết quả cũng tương tự nếu người ta xem xét sự tiêu thụ của chính phủ (phần trăm GDP dùng cho chính phủ để mua hàng hóa và dịch vụ, khác biệt với tiền chuyển giao cho người khác hay dùng để đầu tư).

Nếu bỏ qua các quốc gia nằm ở hai cực của quang phổ, các nhà nước châu Âu là những người mua hàng lớn nhất : Đan Mạch (27%), rất cao so với Đức (18%). Tại Mỹ 17%, và Trung Quốc 13%. Hong Kong 8%, Ma Cao 7%.

Trung Quốc dẫn đầu phương Tây trong việc tạo lập tiền vốn cố định (cách nói để chỉ đầu tư vào những tài sản cứng) trong địa hạt nào ? Theo Ngân hàng Thế giới (WB), hoạt động này chiếm 21% GDP của Trung Quốc vào năm 2008, đó là một trong những con số cao nhất thế giới, cho thấy chính phủ có vai trò dẫn đầu trong đầu tư hạ tầng cơ sở. Các con số tương ứng của các nước phương Tây rất nhỏ. Tại phương Tây, chính phù rất hoang phí, họ không phải là nhà đầu tư. Họ mượn tiền đế mua hàng hóa và dịch vụ. về mặt khác, phần chia của khu vực công trong hoạt động đầu tư của Trung Quốc đã giảm mạnh trong 10 năm qua. Đây cũng là dấu hiệu chiều hướng của Trung Quốc đang đi xa dần chủ nghĩa tư bản nhà nước.

Dĩ nhiên, những con số này về vai trò của Nhà nước không cho chúng ta thấy chính phủ hoạt động có hữu hiệu hay không. Về điểm này, chúng ta nên quay qua một số dữ liệu hoàn toàn khác. Mỗi năm Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) (8) cho ấn hành bảng “Chỉ số sức mạnh cạnh tranh toàn cầu”, đánh giá các quốc gia dưới nhiều góc độ khác nhau, kể cả hiệu quả kinh tế của những định chế công. Vì các phương pháp này mới được sử dụng từ 2004, sức mạnh cạnh tranh của Mỹ đã giảm từ 5.82 xuống còn 5.43 (7 là chỉ số cao nhất). Đó là một suy giảm mạnh trong nhóm những quốc gia phát triển. Thành tích của Trung Quốc, ngược lại, đã tăng từ 4.29 lên 4.90.

Và điếm hấp dẫn hơn nữa là bảng “Điều tra về ý kiến các giám đốc công ty” (Executive Opinion Survey) của WEF. Bảng này cho một số dữ liệu cung cấp cho bảng “Chỉ số cạnh tranh toàn cầu”. Bảng dưới đây cho biết 15 số đo về hiệu quả làm việc của Chính phủ, tập trung vào việc quản ỉỷ theo pháp luật, kể từ việc bảo vệ quyền tài sản tư nhân tới việc kiểm soát tham nhũng và hạn chế tội phạm có tổ chức. Đó là những điều nên đo, vì, không cần để ý tới danh nghĩa đó là nền kinh tế thị trường hay do Nhà nước chỉ đạo, chất lượng của các định chế công pháp có ảnh hưởng tới môi trường kinh doanh.

Bảng : Các thước đo về pháp trị, Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF EOS 2011-2012).

Vấn đề Nước đầu bản Điểm cao nhất Điểm của Mỹ Thức bậc của Mỹ Thứ bậc Hongkong Thứ bậc Trung Quốc
1- Bảo vệ quyền sỡ  hữu tài sản Phần Lan 6.4 5.1 39 6 41
2- Chống tham nhũng New Zealand 6.6 4.6 36 10 51
3- Đạo đức chính khách Singapore 6.4 3.2 50 22 26
4- Chống hối lộ New Zealand 6.7 4.9 42 11 63
5- Tư pháp độc lập New Zealand 6.7 4.9 36 15 63
6- Không ưu ái chính trị Thụy Điển 5.8 3.3 50 29 38
7- Luật pháp hiệu nghiệm

trong tranh chấp tư nhân

Singapore 6.3 4.5 36 5 42
8- Luật pháp hiệu nghiệm trong

tranh chấp với  chính quyền

Phần Lan 5.7 4.2 39 3 44
9- Chi phí thấp chống tội

phạm có tổ chức

Đan Mạch 6.8 4.9 86 28 88
10- Độ tin cậy của cảnh sát Phần Lan 6.7 5.6 30 9 55
11- Đạo đức công ty Đan Mạch 6.7 5.1 29 15 57
12- Kiểm toán tốt Nam Phi 6.5 5.2 40 12 61
13- Quản lý công ty Thụy Điển 5.9 5.1 26 31 77
14- Bảo vệ cổ đông thiểu số Thụy Điển 6.0 4.8 32 24 60
15- Bảo vệ nhà đầu tư New Zealand 9.7 8.4 5= 3 77

Điều hết sức đáng ngạc nhiên trong 15 vấn đề kể trên, có tới 14 vấn đề mà Mỹ có thứ hạng thấp hơn Hong Kong. Ngay cả Trung Quốc cũng cao hơn Mỹ trong 2 vấn đề. Thực tế, Mỹ chỉ có điểm cao trong 1/15 vấn đề này, Mỹ cũng chỉ xếp hàng thứ 5. Trong mọi vấn đề khác, điểm của Mỹ rất kém.

Ý nghĩa của bảng này đã rõ ràng : Nếu chúng ta muốn hiểu được sự thay đổi quan hệ giữa Nhà nước và thị trường trên thế giới ngày nay, chúng ta phải nghiền ngẫm lại việc tổng quát hóa cụm từ “Chủ nghĩa tư bản nhà nước”. Cụm từ này hiện nay không có giá trị nhiều hơn cụm từ của chủ nghĩa Mác-Lê “chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà nước” vào thời Rudolf Hilferding đưa ra một thế kỷ về trước (9).

Không có một ai chối bỏ một cách nghiêm túc là nhà nước có đóng một vai trò trong đời sống kinh tế. vấn đề là vai trò này phải như thế nào, và nó phải hành động làm sao để cùng lúc tăng cường hiệu quả kinh tế, và giảm thiểu cách hành xử “tìm kiếm địa tô” (ăn hối lộ) – đó là sự tham nhũng với mọi hình thức của nó – cách hành xử này có khuynh hướng xuất hiện khi hai lĩnh vực tư và công gặp nhau.

Bây giờ tất cả chúng ta đều là tư bản Nhà nước. Và chúng ta đã là thế từ hơn một thế kỷ nay, từ khi Nhà nước hiện đại bắt đầu tăng trưởng mạnh mẽ từ cuối thế kỷ 19, vào lúc mà Adolph Wagner (10) lần đầu tiên đưa ra định luật về “sự gia tăng trong chi tiêu của chính phủ”. Nhưng có hàng hà sa số hình thức của chủ nghĩa tư bản nhà nước, từ giới chuyên chế thông minh ở Singapore, tới nền cai trị độc đoán vô hiệu quả ở Zimbabwe; từ một nhà nước bình đẳng và “bầu sữa nuôi con” ở Đan Mạch, cho tới giấc mơ thiên đàng cá nhân chủ nghĩa của Ron Paul xứ Texas (11).

Sự tranh chấp thực sự trong thời đại chúng ta không phải là giữa một Trung Quốc tư bản nhà nước và một nước Mỹ tư bản thị trường, với châu Âu nằm ở lưng chừng đâu đó. Đó là cuộc tranh chấp đang diễn ra giữa cả ba đơn vị kinh tế này, khi chúng ta đang vật vã đấu tranh để tìm được điểm cân bằng tốt nhất giữa các định che kinh tế tạo ra của cải và các định chế chính trị có nhiệm vụ giám sát và phân phối lại của cải.

Đặc tính của thế kỷ này – dù nó là “hậu Mỹ” hay Thế kỷ của Trung Quốc, hay là một cái gì khác mà chúng ta chưa nghĩ ra – sẽ được xác định bởi hệ thống chính trị nào nắm đúng được điểm cân bằng này.

Chú thích:

(1)    George Kennan: Một chính khách Mỹ, người đã đưa ra lý thuyết “Bao vây Liên Xô” sau khi Thế chiến thứ II chấm dứt 1945.

(2)    Henry Kissinger: (Sinh năm 1923) Nguyên Bộ trưởng Ngoại giao của chính phủ Nixon, và cố vấn an ninh quốc gia của Nixon (1968-1974), sau đó là Bộ trưởng ngoại giao của Tổng thống Gerald Ford. Người đã tìm cách chấm dứt chiến tranh Việt Nam, và bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa Mỹ và Trung Quốc.Theo ông. binh thường hóa quan hệ với Trung Quốc để lập liên minh Trung-Mỹ chống lại Liên Xô; nhưng theo các sử gia Mỹ, Chính sách bỉnh thường hóa ngoại giao Trung-Mỹ có mục tiêu nữa là cứu vớt danh dự của Mỹ khi phải rút quân khỏi Việt Nam. Kissinger muốn xây dựng một Cộng đồng Châu Á-Thái Bình Dương (giữa Mỹ và Trung Quốc), hữu hảo, giống như Cộng đồng Xuyên Đại Tây Dương giữa Mỹ và Tây Âu . Đó là lý thuvết họp tác với nhau, “cùng tiến hóa”, trong tinh thần “cùng thắng” của người Mỹ. Lý thuyết về hợp tác Trung-Mỹ đã được các Tổng thống Mỹ chấp nhận thi hành cho tới tận ngày nay.

(3)    Đồng thuận Washington: Chính sách kinh tế có mục tiêu giúp các quốc gia đang phát triển có điều kiện đối phó các chu kỳ kinh tế, tránh khủng hoảng và tăng trường bền vững. Chính sách này được cô đọng trong 10 điểm mà Washington đưa cho các quốc gia khác noi theo. Các điểm này được kinh tế gia Mỹ John Williamson đưa ra vào năm 1989 tại Washington. Trong bài viết kể trên, tác già đã nói rõ nội dung của 10 điểm đó.

(4)    Đồng thuận Bắc Kinh: Chính sách kinh tế cũng có mục tiêu giúp các quốc gia đang phát triển đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế. Chính sách này phê phán Washington Consensus là các nước Tây phương tìm cách thống trị các nưóc đang phát triển. Đồng thuận Bắc Kinh đề nghị là các nước Tây phương không can thiệp vào nội bộ của các nước nhỏ. Chính sách này được kinh tế gia Mỹ Joshua Cooper Ramo tổng hợp vào năm 2004, gồm có 3 điểm chính: 1)- cần phải đổi mới luôn luôn qui trình sản xuất, 2)- cần phân phối đồng đều hơn lợi tức của xã hội cho mọi tầng lớp dân chủng. 3)-Các quốc gia cần có tự chủ trong chính sách kinh tế của mình.

(5)    Adam Smith: (1723-1790) Kinh tế gia người Anh, đưa ra lý thuyết về tự do thị trường, đầu mối của chũ nghĩa tư bản Tây phương. Ông là triết gia, và nhà kinh tế chính trị nổi tiếng của Anh, có công cho Thời đại Khai sáng của Anh quốc.

(6)    Peter Thiel ( sinh năm 1967), Một trí thức trẻ của khu Công nghệ cao (công nghệ thông tin) tại Thung lũng Silicon Valley, trở thành tỷ phú nhờ sáng chế ra cách bán hàng trên mạng.

(7)    Dự án Manhattan (1940). Đó là một dự án quân sự tối mật, mục tiêu chế tạo bom nguyên tử của Mỹ, để chống lại sức mạnh của nước Đức Hitler và của nước Nhật quân phiệt. Công việc nghiên cứu được triển khai từ 1941. Cho tới 1945 thì hoàn thành. Quả ‘bom nguyên tử đầu tiên đã được thả xuống Hirosiưia (tháng 8-1945).

(8)    Diển đàn Kỉnh tế Quốc tế (World Economic Forum): Một tổ chức bất vụ lợi của Thụy Sĩ, trụ sở tại Geneva. Có mục đích tạo điều kiện trao đổi giữa các chính khách, chuyên gia và các nhà tư bản về tình hình kinh tế thế giới, cùng với những vấn đề phải giải quyết. Hàng năm, tổ chức này lập ra Hội nghị tại Davos, tụ tập hơn 2500 chuyên gia kinh tế, chính khách và chủ tịch các công ty lớn để bàn về khả năng hợp tác kinh doanh…

(9)    Rudolf Hilferding (1877-1941). Là một nhà tư tưởng Áo gốc Do Thái. Sáng lập ra trường phái Marxist Áo; lý thuyết gia của Đảng Dân chủ Xã hội Đức trong thời Cộng hòa Weimar ở Đức (trước khi Hitler nắm quyền). Ông đưa ra lý thuyêt “tư bản chủ nghĩa có tổ chức”, và viết sách “Tư bản Tài chính” (Daz Finanzkapital) rất nổi tiếng, được Lenin trích dẫn khi viết về chủ nghĩa Đế quốc

(10) AdolphWagner (1835-1917) Nhà kinh tế học người Đức, hô hào chủ nghĩa Trọng nông (agrarianism). Chuyên gia về tài chính công; tác giả của định luật “Chi tiêu của nhà nước ngày càng tăng”.

(11) Ron Paul: (Sinh 1935): Dân biểu xứ Texas, ứng cử viên Tổng thống Mỹ 3 lần. Thuộc đảng Cộng hòa, nhưng tư tưởng Tự do chủ nghĩa. (Libertarian), thành viên tích cực cùa TEA Party, một phong trào dân túy ở Mỹ.


TỪ THỰC TIỄN NƯỚC TA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NHÀ NƯỚC, CON ĐƯỜNG CHẮC CHẮN NHẤT ĐI LÊN CNXH

TỪ THỰC TIN NƯỚC TA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NHÀ NƯỚC, CON ĐƯỜNG CHẮC CHẮN NHẤT ĐI LÊN CNXH

(Phát biu Tham luận của đông chí Võ Trần Chí - nguyên y viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TP H Chí Minh trong cuộc hội thảo Khoa học tại Phân viện KHXH TPHCM năm 1998)

Tại Đại hội VII của Đảng ta (6/1991), (thay mặt Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh), tôi đã phát biểu một tham luận gồm 3 phần:

-   Một là xây dựng các trung tâm phát triển kinh tế của đất nước;

-   Hai là vận dụng luận điểm của Lênin về chủ nghĩa tư bản Nhà nước;

-   Ba là công tác xây dựng Đảng.

Trong tham luận đó, chúng tôi nhấn mạnh rằng “chủ nghĩa tư bản Nhà nước là một trong những vấn đề đặc biệt lớn mà chúng ta cần quan tâm nghiên cứu, vận dụng”. Mặc dù mãi cho đến nay, các văn kiện Đảng và Nhà nước vẫn chưa chính thức ghi nhận danh từ “chủ nghĩa tư bản Nhà nước” để chỉ một đường lối hay một chiến lược phát triển kinh tế theo con đường xã hội chủ nghĩa, mà mới chỉ dừng lại ở “thành phần kinh tế tư bản Nhà nước” hay “các hình thức kinh tế tư bản Nhà nước”, nhưng chúng tôi vẫn giữ quan niệm nhất quán nêu trong tham luận đó rằng “chủ nghĩa tư bản Nhà nước đối với chúng ta sẽ là phương thức có hiệu quả nhất nhằm phát triển lực lượng sản xuất, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa..(1)

Sau Đại hội VII, tại Hội thảo về chủ nghĩa tư bản Nhà nước (tổ chức tháng 11/1991 tại Phân viện Khoa học Xã hội TP), tôi đã nói vắn tắt mấy ý:

-   Khi được nghiên cứu ở Trường Đảng về chủ nghĩa tư bản Nhà nước cùng với chính sách kinh tế mới, tôi hết sức tâm đắc và cảm thấy như Lênin đang nói về chính thời kỳ quá độ của chúng ta.

-   Việc đi sâu vào chủ nghĩa và các khái niệm thì để cho các nhà lý luận, còn tôi thì cho rằng chủ nghĩa tư bản Nhà nước mà tôi thu hoạch được ở Lênin không thể chỉ là “cầu tre lắc lẻo” mà phải là “cầu đúc bằng bê tông”! đối với thời kỳ quá độ ở nước ta.

-    Lãnh đạo thành phố cũng xin “đặt hàng” cho các nhà lý luận về đề tài đặc biệt quan trọng này.

Từ đó đến nay, lãnh đạo của Thành phố vừa chỉ đạo vận dụng chủ nghĩa tư bản Nhà nước trên địa bàn Thành phố, vừa tiếp tục tổ chức nghiên cứu vấn đề này để góp phân tích cực làm sáng tỏ hơn nữa vấn đề chủ nghĩa tư bản Nhà nước cả về lý luận lẫn các chủ trương chính sách và chỉ đạo thực tiễn. Liên tiếp trong hai năm 1995 và 1996, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thành ủy, Ban Kinh tế Thành ủy phối hợp với Viện Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức hai cuộc hội thảo khoa học về nghiên cứu và vận dụng chủ nghĩa tư bản Nhà nước.

Cùng với sự vận dụng sinh động và ngày càng hiệu quả các hình thức của chủ nghĩa tư bản Nhà nước trên địa bàn Thành phố nói riêng và cả nước nói chung, ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu đi sâu làm rõ vai trò lịch sử to lớn của chủ nghĩa tư bản Nhà nước đối với định hướng xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Lênin. Có những tác giả và tập thể tác giả đã không ngần ngại khẳng định vai trò có tính quyết định đó là chủ nghĩa tư bản Nhà nước đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, mà trước hết là sự nghiệp kinh tế, chẳng hạn:

-    “Phát triển mạnh mẽ chủ nghĩa tư bản Nhà nước với tất cả các hình thức của nó… là một định hướng cơ bản, một nội dung tổng quát xuyên suốt cả thời kỳ quá độ ở nước ta”.(2)

-    “Quan đim v chủ nghĩa tư bản Nhà nước cần phải trở thành tư tưởng trung tâm, “sợi chỉ đỏ xuyên suốt” của đường li phát triền kinh tế ở một nước tiền tư bản đi lên chủ nghĩa xã hội. (3)

-         “Có th khái quát thời kỳ quá độ, thực cht là thời kỳ phát trin chủ nghĩa tư bản Nhà nước được Nhà nước của giai cp công nhân tính toán, kim soát và được xã hội hóa để từng bước xuyên qua nó tiến những bước tiến khổng lồ hướng về chủ nghĩa xã hội.(4)

-           “Phát triển chủ nghĩa tư bản Nhà nước là hình thức tốt nhất phát huy sức mạnh tổng hợp của dân tộc và thời đại để tăng trưởng kinh tế cao và vững bền theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta”(5).

-           “Chủ nghĩa tư bản Nhà nước là một chính sách để phát triển đại công nghiệp và củng cố liên minh công nông trên cơ sở mới”(6).

-           “Học thuyết Lênin về chủ nghĩa tư bản Nhà nước… thực chất là lý luận đường lối sách lược về kinh tế – xã hội để đưa nền kinh tế tiểu nông chiếm đa số đi lên chủ nghĩa xã hội thông qua con đường chủ-nghĩa tư bản Nhà nước”, là “một nội dung cơ bản về kinh tế – xã hội đi lên chủ nghĩa xã hội”(7).

-           “Tư tưởng về chủ nghĩa tư bản Nhà nước kiểu mới trong điều kiện cầm quyền là đóng góp đặc sắc nhất trong tổng thể NEP (chính sách kinh tế mới) nói rêing và trong học thuyết Lênin về quá độ phi tư bản nói chung lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”(8).

-           “Chủ nghĩa tư bản Nhà nước phải đóng vai trị xung kích trong việc sản xuất ra những hàng hóa công nghiệp có giá trị công nghệ cao và cũng có vai trò xung kích trong việc điều tiết các nguồn thu nhập quốc dân, tích cực thu góp vào công quỹ ngày càng lớn, góp phần giải quyết nạn thất nghiệp và bất công trong thu nhập x hội(9).

-           V..V…

Tơi cho rằng những đánh giá tương tự như vậy về vị trí lịch sử của chủ nghĩa tư bản Nhà nước đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là hoàn toàn phù hợp với các quan điểm lý luận của Lênin về chủ nghĩa tư bản Nhà nước, cũng như ngày càng được chứng minh trong thực tiễn sinh động ở nước ta từ 10 năm qua.

Nhưng cho đến nay, trong chúng ta không phải ai cũng công nhận một cách nhất quán chủ nghĩa tư bản Nhà nước cả về lý luận lẫn thực tiễn. Chính Lênin cũng đã từng gặp sự chống đối quyết liệt của “những người Cộng sản cánh tả” quanh vấn đề trọng đại này, thậm chí trong số đó có người đ tự sát.

Cần hiểu cơ sở thực tiễn của vấn đề chủ nghĩa tư bản Nhà nước ở đây theo nghĩa mà Lênin đã từng đề cập, như:

-           Thực tiễn kinh tế – kỹ thuật và kinh tế – tố chức của chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà nước Đức và thực tiễn chính trị là chính quyền Xô Viết Nga. Hai thực tiễn đối lập nhau đó có được vào năm 1918 giống như “hai con gà trong tương lai của chủ nghĩa xã hội” nên có thể và cần phải kết hợp với nhau để tạo dựng chủ nghĩa xã hội.

-           Thực tiễn sản xuất nhỏ còn phổ biến, ở đó, tính tự phát tiểu tư sản, tư sản, vô chính phủ chính là trở ngại chủ yếu của con đường đi lên xã hội chủ nghĩa mà yếu tố duy nhất để chiến thắng nó chỉ có thể là chủ nghĩa tư bản Nhà nước.

Tôi cũng không đồng tình với ý cho rằng chủ nghĩa tư bản Nhà nước và NEP chỉ là một giải pháp tình thế, một thành phần kinh tế tạm thời, mà phải là một đường lối chiến lược, bảo đảm chắc chắn nhất để nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội.

Tình trạng thiếu nhất quán này đòi hỏi phải tiếp tục tìm hiểu, tổ chức hội thảo thường xuyên trên cơ sở kết hợp chặt chẽ thực tiễn với lý luận, lấy thực tiễn bổ sung cho lý luận. Tôi nghĩ rằng cho đến nay, chủ nghĩa tư bản Nhà nước ở nước ta hoạt động có hiệu quả, nhưng không phải ai cũng công nhận; cho nên phải tiếp tục chứng minh nó bằng một chương trình tống kết thực tiễn chứ không chỉ xác nhận về lý luận.

Phải thông qua thực tiễn nâng cao mà nâng lên về mặt lý luận, phải tổng kết từ khi ta cho các thành phần kinh tế (có cả tư bản tư nhân) hoạt động, từ khi ta có luật Đầu tư nước ngoài, từ khi ta có chủ trương khoán 10, tức là khoán hộ v.v… cho đến nay, cái gì được, cái gì chưa được một cách có phân tích và cả những lời giải đáp về những vấn đề nảy sinh không tránh khỏi trong quá trình vận dụng.

Nếu từ chối con đường TBNN thì phải đi lên chủ nghĩa xã hội bằng con đường nào? Cách trước đây đi lên chủ nghĩa xã hội hồn tồn bằng hai thnh phần kinh tế: quốc doanh và tập thể (hay chủ nghĩa x hội Nhà nước) có được không? nếu được thì hà tất gì ta phải đổi mới?

Vì vậy, như phần trình bày sơ bộ ở trên, vấn đề là từ nền kinh tế x hội lạc hậu như nước ta chỉ có thể bằng con đường chủ nghĩa tư bản Nhà nước mới đưa được nền kinh tế sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa x hội một cch chắc chắn nhất (Chú ý: quy trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội hoàn chỉnh là không hoàn toán giống nhau). Ở đây có vấn đề “quy luật QHSX phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất ” cần được đem ra mổ xẻ qua thực tiễn đổi mới trên 10 năm qua của nền kinh tế xã hội nước ta? Chúng ta hay phân tích vì sao chỉ năm trước chúng ta phải nhập khẩu gạo mà năm sau, chúng ta lại xuất khẩu gạo? Và cũng với bao nhiêu ruộng đất và bao nhiêu nông dân ấy? Và tại sao trong những năm 90, trong khi Mỹ còn đang cấm vận đối với chúng ta, sau khi ta có Luật đầu tư cho nước ngoài thì lập tức tư bản vẫn kéo vào đầu tư bất chấp lệnh cấm vận ấy? v.v… Đó chính là động lực kinh tế xuất phát từ lợi ích kinh tế – chính lợi ích kinh tế đ tạo ra động lực kinh tế và động lực kinh tế đó làm cho lực lượng sản xuất phát triển và năng suất lao động tăng lên. Phải chăng là chúng ta đang vận hành đúng quy luật?

Sự vật bao giờ cũng có hai mặt: Nếu đi lên chủ nghĩa x hội bằng con đường chủ nghĩa tư bản Nhà nước và sử dụng cơ chế thị trường thì mặt trái của nó phải chú ý là cái gì, các nguy cơ của nó ra sao và phải chế ngự nó bằng cách nào? Cũng cần hiếu rằng trong các nguy cơ thì nguy cơ tụt hậu cũng không đưa nước ta lên chủ nghĩa xã hội được.

Ai cũng muốn có chủ nghĩa xã hội vì chủ nghĩa xã hội là một lý tưởng quá tốt đẹp, nhưng vấn đề quan trọng lại là làm sao để có được chủ nghĩa x hội. Cái khó nhất là ở cho đó. Ai cũng sợ mất chủ nghĩa xã hội, nhưng cái khó lại là phải làm thế nào để xây dựng cho được chủ nghĩa xã hội trong điều kiện trình độ lực lượng sản xuất của nước ta còn quá thấp kém và bảo vệ được thành quả đó một cách lâu dài?

Toàn bộ cách đặt vấn đề như vậy đại hỏi Đảng và Nhà nước ta phải thực sự tự giác, thực sự cĩ ý thức – đặc biệt trong việc nhận thức và vận dụng chủ nghĩa tư bản Nhà nước.

Vì vậy, vấn đề tổ chức hội thảo, nghiên cứu, tranh luận không phải dẫm chân tại chỗ, mà phải đặc biệt gắn hội thảo, nghiên cứu với thực tiễn để đi đến có những kiến nghị vừa xác thực vừa mang tính sáng tạo góp phần chuẩn bị cho Đại hội Đảng ta lần thứ IX.

Cũng cần tổ chức tổng kết có chiều sâu quy trình, vận dụng chủ nghĩa tư bản Nhà nước trong thời gian qua để khẳng định những gì thành công, những gì chưa thành công để kịp thời phát huy hơặc uốn nắn. Phải thấy cả hai mặt tích cực và tiêu cực của tư bản cả trong nước và ngoài nước. Tự phát và mưu cầu lợi nhuận tối đa là lẽ đương nhiên của nhà tư bản, thậm chí vì lợi nhuận siu ngạch mà bị treo cổ, họ cũng làm! (Lnin). Đó là chưa kể âm mưu chính trị của chủ nghĩa đế quốc. Nhưng Chủ nghĩa tư bản Nhà nước lại phải hoạt động theo khuôn khổ của chế độ chúng ta, trong một Nhà nước có ỷ thức tự giác, có chủ quyền và hệ thống luật pháp xã hội chủ nghĩa bảo đảm.

Tôi nghĩ rằng sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta còn lâu dài, con đường chủ nghĩa tư bản Nhà nước có thể tồn tại nhiều chục năm, qua nhiều thế hệ. Lực lượng khoa học xã hội nước ta phải xây dựng cho được cơ sở lý luận của đường hướng đó, có vai trị quyết định trong qu trình vạch ra cc bước đi đối với đường hướng đó.

Đó là sứ mạng đồng thời là một thử thách lịch sử đối với lực lượng khoa học x hội Việt Nam. Nếu để mất trận địa này, về mặt chế độ, sẽ mất tất cả. Bởi vì với những điều kiện lạc hậu thấp kém của nền kinh tế x hội nước ta, không quá độ bằng con đường tư bản Nhà nước của Lênin thì khơng thể đi lên chủ nghĩa xã hội được mà xã hội sẽ tự phát đi vào con đường tư bản chủ nghĩa bất công và đau khổ.

Tháng 5/1998

 

(l) Ban Kinh tế Thành ủy TP HCM nghiên cứu vận dụng các hình thức kinh tế tư bản Nhà nước trên đại bàn TP HCM, trang 7

(2) -(6) Tài liệu hội thảo về CNTBNN… Ban kinh tế thành uỷ thành phố HCM – 7/10/1996, các trang: 101, 104, 109, 110, 121.

(7) Ban kinh tế thành uỷ thành phố HCM. Nghiên cứu vận dụng các hình thức kinh tế tư bản nhà nước trên địa bàn thành phố HCM. 1997, trang 10.

(8) TLĐD, trang 51

(9) TLĐD, trang 103

THAM LUẬN CỦA ĐOÀN ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ TP. HỒ CHÍ MINH TẠI ĐẠI HỘI TOÀN QUỐC. LẦN THỨ VII CỦA ĐẢNG

THAM LUẬN CỦA ĐOÀN ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ
TP. HỒ CHÍ MINH TẠI ĐẠI HỘI TOÀN QUỐC.
LẦN THỨ VII CỦA ĐẢNG

(Do Đồng chí Võ Trần Chí trình bày)

Thưa đoàn Chủ Tịch và các vị khách quốc tế.
Thưa các vị khách quý của Đại hội.
Thưa các đồng chí đại biểu.


Trước hết, cho phép tôi được chuyển đến Đại hội lới chào mừng nồng nhiệt nhất của Đảng bộ và nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh và xin bày to niềm tin sâu sắc của chúng tôi đối với Đại Hội toàn quốc lần thứ VII của Đảng – Đại hội của trí tuệ, đổi mới, dân chủ, kỷ cương, đoàn kết.
Đoàn đại biểu Thành Phố Hồ Chí Minh nhất trí cao với các văn kiện trình Đại hội. Về Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế- xã hội đến năm 2000; Báo cáo chính trị của ban chấp hành Trung ương (khóa VI) về đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội VI là phương hướng nhiệm vụ 5 năm 1991-1995; Báo cáo xây dựng Đảng, sửa đổi điều lệ Đảng và Điều lệ Đảng được sửa đổi.
Những văn kiện này thể hiện sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Le6nin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện cụ thể của cách mạng nước ta, gắn với bối cảnh quốc tế đang chuyển biến rất phức tạp. Đó là cơ sở lý luận và thực tiễn sinh động để tăng cường sự đoàn kết thống nhất của các lực lượng yêu nước, góp phần tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của bạn bè trên thế giới, thúc đẩy sự kết hợp sức mạnh của chính mình với sức mạnh của thời đại trong tình hình mới. Việt Nam ổn định tiếp tục vượt qua cam go, thử thách để tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân ta đã chọn. Đó là niềm vui lớn không chỉ của nhân dân và Đảng Cộng sản Việt Nam, mà của tất cả những ai đã từng ủng hộ, giúp đỗ và gửi gắn niềm tin ở việt Nam.
Cùng với các đoàn Đại biều anh em, đoàn địa biểu chúng ta đã nghiêm túc nghiên cứu và đóng góp ý kiến và các văn kiện trình Đại hội. Hôm nay, chúng tôi xin được phép phát biểu một số ý kiến về vấn đề sau đây:
- Về chủ nghĩa tư bản Nhà nước đối với sự nghiệp xây dựng đất nước trong thời kỳ qua đó tiến độ chủ nghĩa xã hội.
- Về vai trò của các trung tâm trong nền kinh tế hành hóa.
- Một vài suy nghĩ về chỉnh đốn Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Kính thưa Đại hội.
Đưa đất nước Việt Nam chúng ta còn nghèo nàn lạc hậu tiến lên sản xuất của xã hội chủ nghĩa là một vấn đề vô cùng khó khăn và phức tạp. Từ nhiều năm nay, nhất là từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI, Đảng chúng ta đang đi tìm giải đáp cho bài toán đó. Cương lĩnh và chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của Đại Hội VII đẽ đề cập đến chủ nghĩa tư bản Nhà nước. Chúng tôi cho rằng đây là một rong những vấn đề đặc biệt lớn mà chúng ta cần quan tâm nghiên cứu, vân dụng. Lênin và các bật tiền bối cách mạng đã nói: “Muốn co chủ nghĩa xã hội, không những phải có điều kiện chính trị, mà còn phải có các điều kiện chính trị, mà còn phải có điều kiện kinh tế, có kỹ thuật hiện đại được xây dựng trên những phát minh của cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật”. Trong điều kiện của nước Nga đầu thế kỷ 20 còn chậm tiến, Lênin cho rằng: “Các hình thức của chủ nghĩa tư bản Nhà nước là nấc thang trung gian có thể đưa nước Nga vượt qua tình trạng kinh tế- xã hội kém phát triển”. Trong thời Lênin, tiếc rằng tư tưởng của người chưa được thực hiện đầy đủ và chưa đem lại được những hiệu quả cao.
Nước ta chưa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, cho nên sau khi nắm chính quyền, giai cấp công nhân phải phát trển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa đất nước theo hướng hiện đại, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật để tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Chế độ chính trị tiên tiến trước hết phải tạo điều kiện thu hút, khai thác, phát huy một cách có hiệu quả nhất từ chất xám, sức lao động cùng vốn và kỷ thuật hiện đại phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất.
Vận dụng tư tưởng của Lênin, của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay, từ sau Đại hội VI, chúng ta đã bắt thực hiện chủ nghĩa tư bản Nhà nước dưới nhiều hình thức. Chủ nghĩa tư bản Nhà nước, hiểu theo nghĩa hẹp là tất cả những tổ chức kinh tế hình thành và hoạt động trên cơ sở hợp tác, liên doanh, cùng đầu tư giữa tư bản trong nước với cơ sở kinh tế quốc doanh hoặc đối với Nhà nước; hiểu theo nghĩa rộng, là mọi tổ chức kinh tế tư bản tư nhân của trong nước và nước ngoài hoạt động trong điều kiện có sự quản lý và điều tiết theo pháp luật của Nhà nước XHCN.
Với cách hiểu theo nghĩa rộng, chủ nghĩa tư bản nhà nước mà chúng ta đang thực hiện sẽ tạo điều kiện cho chúng ta khai thác tốt tiềm năng to lớn của đất nước về con người và tài nguyên nhanh chóng tiếp cận nền khoa học và công nghệ tiên tiến, nhanh chóng đứng chân trong nền kinh tế thế giới, tạo tiên đề thực hiện chủ nghĩa xã hội mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn cho Cách Mạng Việt Nam, theo cương lĩnh mới của Đảng. Đó cũng là phương thức hiệu quả để chống lại hai thế lực thường xuyên đe dọa một nước vừa giành được độc lập dân chủ tiến lên chủ nghĩa xã hội, từ một điểm xuất phát điểm còn thấp; một là thế lực chủ nghĩa đế quốc luôn tìm cách phục thù, khống chế lũng đoạn, đi đến lật đỗ Nhà nước của giai cấp công nhân; hai là, thế lực to lớn của nền sản xuất hàng hóa nhỏ hàng ngày giờ tự phát dần đến chủ nghĩa tư bản trong một nền kinh tế còn phân tán vè kém phát trển.
Như vây, chủ nghĩa tư bản Nhà nước đối với chúng ta sẽ không chỉ là nấc thanh tung gian, mà còn là phương thức có hiệu quả nhất nhằm phát triển lực lượng sản xuất, tiến hành công nghệ hóa, hiện đại hóa, chuyển từ quan hệ tiền tư bản chủ nghĩa lên chủ nghĩa xã hội. Đó là chính sách lớn của chúng ta nhằm xây dựng đất nước đi lên sản xuất lớn xã hội chủa nghĩa.
Đương nhiên chúng ta cũng hiểu rằng những nhà tư bản nước ngoài đi vào hợp tác làm ăn chủ yếu là vì hai lẽ:
- Việt Nam là đất nước mới, có sự ổn định về chính trị, nguồn lao động dồi dào, giá nhân công thấp, có thể kinh doanh có lãi. Chính sách của Việt Nam đang trên dà cởi mở, mối quan hệ hợp tác của Nhà nước và nhà tư bản được bảo đảm.
- Sự cạnh tranh gây gắt về quyền lợi giữa các tập đoàn tư bản quốc tế thúc đẩy họ phải nhanh chóng đứng chân ở Việt Nam vì lợi nhuận và tương lai của họ. Không chỉ 9ong1 khung ở Việt Nam, các Đông Dương, mà cả trong khu vực Đông Nam A!.
Như vậy, nếu chúng ta có danh sách và có pháp luật đảm bảo quyền lợi chính đáng của họ, người tư sản trong nước và ngoài nước sẽ ha8nghai1 đầu tư và ngày càng có khả năng mở rộng sự đầu tư của họ. Với trình độ khoa học và công nghệ hiên nay, họ hoàn toàn có thể được lợi nhuận cao, lội nhuận siêu ngạch dưới hình thức tư bản Nhà nước theo luật đầu tư của Đảng và Nhà nước ta. Và nhất thiết họ phải đổi mới khoa học và công nghệ để sản phẩm có thể cạnh tranh được trên thị trường thế giới. Với những điều kiện ấy chúng ta sẽ có thêm khả năngđẩy nhanh tốc độ dầu tư và phát triển khoa học – kỹ thuật sớm phát triển lực lượng sản xuất của chúng ta còn đang yếu kém. Vấn đề là chúng ta phải đào tạo kịp thời một đội ngũ cán bộ trí thức, công nhân đủ trình độ và sức tháo vát để tiếp thu cái mới, đủ bản lĩnh chính trị về kinh nghiệm quản lý kinh doanh để không bị sơ hở, hoặc bị một số bọn xấu lừa đảo, như vừa qua Thành Phố Hồ Chí Minh đã mắc phải. Đội ngũ cán bộ, công nhân mới này nhất thiết phải có nhiệt tình và yêu nước, ý chí phát triển quốc gia làm giàu cho đất nước, gắn chặt lợi ít cá nhân, gia đình với lợi ích của Tổ quốc . Trong thời đại hiện nay và trong xu thế phát triển của đất nước Việt Nam, chúng ta rất nhiều điều kiện khách quan thuận lợi đi lên sản xuất lớn, mặc dù chúng ta còn phải đương đầu với nhiều trở lực, cản ngại, như chính sách cấm vận về kinh tế, những khó khăn thủ đoạn chính trị chống Việt Nam.
Mấy năm qua, thực hiện đường lối đổi mới chủ Nghị quyết Đại hội VI, thành phố Hồ Chí Minh đã và đang có nhiều cố gắng để vận dụng những quan điểm kinh tế trên đây. Những hình thức xí nghiệp công tư hợp doanh, trong đó Nhà nước và tư nhân xí nghiệp công tư hợp doanh, trong đó Nhà nước và tư nhân cùng kinh doanh chia lãi, những xí nghiệp quốc doanh cổ phần hóa dưới nhiều hình thức sở hữu hỗn hợp, đan xen nhau, những khu vực đầu tư 100% vốn đầu tư bản nước ngoài. Nhà nước cho thuê xí nghiệp (hoặc có thể sẽ giao cho thuê khu đấy, tài nguyên, v.v…) và hàng loạt đề an hợp tác hai bên, nhiều bên… giữa Nhà nước với Nhà nước, giữa Nhà Nước với tư nhân nước ngoài, trong nước… đang trên đà mở rộng. Kết quả bước đầu tuy còn khiêm tốn nhưng đã cho thấy hình thức tư bản Nhà nước như trên có nhiều triển cọng đáng được nghiên cứu tổng kết và phát triển. Nhưng kết quả đó càng có ý nghĩa khi nó đạt được trong hoàn cảnh nước Việt Nam bị những thế lực thù địch bao vây nền kinh tế suốt 16 năm qua. Trong thời đại cách mạng khoa học- kỹ thuật bùng nỗ, lực lượng sản xuất được quốc tế hóa rộng rãi, thế tương thuộc giữa các nước là một thực tế, những mâu thuẫn giữa các tập đoàn tư bản quốc tế, giữa các khối kinh tế,thế giới phát triển đã càng kéo và hạn chế sự khống chế độc quyền của một đế quốc đầu sỏ so với cách đây nhiều chục năm. Đó là những điều kiện khách quan thuận lợi mới. Quy mô, tốc độ và hiệu quả của chủ nghĩa tư bản Nhà nước sẽ rất lớn nếu chung1ta biết kịp thời rút kinh nghiệp, biết khai thác và khối hợp đồng bộ các điều kiện thuận lợi với các nổ lực đối với chủ quan đúng đắn của chúng ta.
Việc phát triển kinh tế thị trường, nhất là mở cửa làm ăn với bên ngoài tất yếu có những mặt tiêu cực không tránh khỏi bên mặt tích cực; thâm chí mặt tiêu cực có thể phát triển thành nguy cơ, nếu chúng ta không cảnh giác và không giữ được quyền chủ động. Chúng tôi nghĩ rằng trong thực tiễn cuộc sống, không có một thành quả nào mà không phải trả giá. Chúng ta đã trải qua một giai đoạn mở đầu đầy ấu trĩ và thử thách, nhưng đã đứng vững. Nhưng kinh nghiệm thành công và không thành công của thực tiển mấy năm qua đã dạy chúng ta. Đảng ta là một đảng có bản lĩnh chính trị, đội ngũ chúng ta đang được rèn luyện về quan điểm lập trường, đang được nâng cao kiến thức và trình độ quản lý. Với những nhân tố tích cực ấy, chúng ta hoàn toàn tin rằng có thể vượt thử thách và tiến lên.
Cho đến nay, khối lượng đầu tư của nước ngoài trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh khoảng hơn 500 triệu đô-la, đó là dấu hiệu đáng khích lệ. Tuy nhiên phải nhận rằng, quy mô đầu tư và những đề án của một số ngành được cấp giấy phép còn rất khiêm tốn. Sắp tới dưới ánh sáng của cương lĩnh, Chiến lược kinh tế cùng với hệ quan điểm đúng đắn của Nghị quyết Đại hội VII, chúng ta sẽ ra sức hoàn chỉnh hệ thống các chính sách, luật pháp, nhất định các hình thức tư bản Nhà nước sẽ phát triển với quy mô ngày càng lớn, đa dạng và phong phú, không phải chỉ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh mà còn chung cho cả nước, góp phần đặc lức vào sự nghiệp phát triển nên kinh tế theo hướng xã hội chủ nghĩa.
Kính thưa Đại hội.
Đại hội VII của Đảng đã khẳng định quan điểm: “ Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận đông theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước”. Đó là điều cực kỳ quan trọng trong đường lối đổi mới hiện nay, nhưng còn một số điều khác quan trọng không kém, đó là việc nhân thức về mối quan hệ giữ hệ thống kinh tế hàng hóa và các trung tâm của nó và tính chất hai mặt gần như tương phản của nền kinh tế hàng hóa ấy.
Ngược dong lịch sử, trong quá trình hình thành và phát triển nền kinh tế hàng hóa ở Việt Nam, nhiều trung tâm kinh tế đã xuất hiện, trong đó có thành phố Sài Gòn cũ, nay là thành phố Hô Chí Minh; đó là những trung tâm kinh tế hàng hóa của đất nước. Quá trình hình thành các trung tâm ấy có liên quan đến những điều kiện địa lý, thiên nhiên và lịch sử, đồng thời thông qua sự vận độngkhông ngừng của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa mà hội tu và phát triển. Mỗi vùng kinh tế điều có thế mạnh của nó, kinh tế trong nước không lưu thông với nước ngoài thi không thể nào phát huy thế mạnh lẩn nhau được. Thế mạnh đó phát triển nhanh hay chậm là do sự vận động của nền kinh tế từ sản từ sản xuất lưu thông đến tiêu thụ với tốc độ của nó như thế nào. Nó tác động qua lại như là hệ tuần hoàn rộng lớnvà mỗi lần luân chuyển hội tụ càng lớn. Có thể nói tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, năng suất alo động xã hội là tùy thuộc một phần quan trọngvào tốc độ vận hành mang tính quy luật khách quan ấy.
Vì vậy, các trung tâm kinh tế không thể phát triển tự nó và cho nó được mà nó phải phát triển theo nhịp độ chung của nền kinh tế hàng hóa. Nó là nơi hội tụ các loại hình kinh tế phát triển và là nơi biểu hiện thế mạnh tập trung của các vùng và các ngành kinh tê hàng hóa khác nhau. Nó đóng vai trò hội tụ và tỏa ra thông qua năng lực sản xuất và lưu thông có hiệu quả được thừa nhận một cách khách quan.
Cũng cần phải nói thêm là không phải chỉ có kinh tế quốc doanh mà các thành phần kinh tế đều có vai trò đó, tùy theo quy mô lớn nhỏ, mạnh yếu khác nhau của nó.
Thành phố Hồ Chí Minh từ trước là một trung tâm kinh tế của khu vực, cơ chế hành chính tập trung quan liêu bao cấp đã một thời làm cho nó bị què quặt. Sau Đại hội VI và nhất là với Đại hội VII Đảng lần này, chúng ta có cương lĩnh, có chiến lược kinh tế – xã hội, khẳng định quan điểm kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo co’ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, thành phô Hồ Chí Minh có điều kiện phấn đấu thực hiện vai trò khách quan của nó một cách tích cực. Với tư cách là một trung tâm kinh tế hàng hóa, các thành phần kinh tế trên địa bàn Thành phố sẽ không ngừng mỏ’ rộng sự liên doanh, hợp tác đa dạng nhiều chiều vói tất cả mọi noi trọng nước và ngoài nước trên cơ sở hiệu quả và các bên cùng có lợi. Phương hướng phấn đấu là làm cho quá trình hội tụ và tỏa ra với tốc độ ngày càng nhanh, với quy mô ngày càng lớn, với tầm hoạt động ngày càng rộng.
Đương nhiên, sự tác động của các trung tâm không phải chỉ có mặt tích cực, bởi vì nền kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường nhiều thành phần không thể tránh khỏi tính tự phát dữ dội của nó; nhất là dối với chúng ta, nền kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa còn rất rộng lớn.
Chúng ta phải khẩn trương tăng cường các công cụ và năng lực quản ị lý, kịp thòi rút kinh nghiệm, đồng thời phải có các “nắm dấm kinh tế” ‘Ị thì mởi có khả năng ngăn chặn và chế ngự những biểu hiện tiêu cực, : tự phát không thể xem thường. ị
Quản lý của Nhà nước vĩ mô trước hết phải nắm bắt quy luật vận hành của hệ thống kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và vai trò các trung tâm của nó cả về mặt tích cực và tiêu cực. Từ đó đề ra I các định chế, đề ra hệ thống các chính sách, nhất là chính sách tài chính, tiền tệ đến kết cấu hạ tầng… nhằm khơi động mạnh mẽ, thúc ; đẩy mọi tiềm năng của nền kinh tế, đồng thời phải tỉnh táo, dự đoán đúng và kịp thời có những biện pháp vừa giáo dục, vừa cưỡng chế, kiên quyết giáng trả những thủ đoạn gian lận, buôn lậu, đầu co’… là tính tự phát vốn có của kinh tế thị trường nhiều thành phần không tránh khỏi. Kinh nghiệm thực tiễn mấy năm qua đã cho chúng ta nhiều bài học rất sinh động. Mặt kết quả là rất đáng khích lê, nhưng mặt tiêu cực nhiều khi cũng đã làm cho chúng ta rất diêu đứng.
Kính thưa Đại hội,
Đoàn đại biểu Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh rất nhất trí về nội dung đánh giá tình hình Đảng và công tác xây dựng Đảng của Ban Chấp hành Trung ương khóa VI : “Đảng chưa đặt đúng tầm quan trọng của việc chỉnh đốn Đảng theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Phải tạo sự chuyển biến có ý nghĩa cách mạng trong tổ chức và bộ máy các cấp”.
Trong Di chúc, Bác Hồ đã viết: “Việc cần làm trước tiên (sau ngày giải phóngj là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi cán bộ đều ra sức làm tròn nghĩa vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân; làm được như vậy thì dù công việc to lán mấy, khó khăn mấy, chúng ta cũng nhất định thắng lợi”. Tư tưởng của Bác Hồ rất sâu xa, nhưng lời nói của Bác lại rất bình dị, đòi hỏi chúng ta phải có thời gian suy ngẫm mới hiểu được sâu sắc nội dung tiềm ẩn bên trong của tư tưởng đó.
Sự nghiệp cách mạng dân tộc, dân chủ giành được thắng lợi hoàn toàn cũng có nghĩa là chúng ta đã thành công trong công tác xây dựng Đảng trong mấy chục năm qua. Trong quá trình đó, Đảng ta đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu và đã trưởng thành. Điều đó không ai có thê phủ nhận được. Nhưng khi bước vào một chiến lược cách mạng mới – cách mạng xã hội chủ nghĩa, một cuộc cách mạng triệt để nhất, sâu sắc nhất thì tất cả mọi tích lũy, mọi kinh nghiệm đã có, dù cho có phong phú đến dâu cũng đều hoàn toàn chưa đỏ, chưa thể nào đáp ứng được những yêu cầu và những vấn đề mới đặt ra của cách mạng. Bởi vì khi thav đổi một chiến lược rhì từ mục tiêu, đối tượng., đường lối, sách lược, tổ chức, phương pháp đểu không thể hoàn toàn giữ nguvên như cũ. Những đòi hối của Đảng đối với đảng viên trong tình hình mói, những thử thách trong cuộc chiến đấu mói mà trong’ cách mạng dân tộc – dân chủ, đảng viên chưa từne; gặp phải, đã làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, một số không ít đã tố ra hạt hẫng, thiếu bản lĩnh trên nhiều mặt, đặc biệt lồ sự va chạm đối dầu với những’ lợi ích vật chất, trong khi đa số đảng viên chúng ta là những người đã có công trạng, có cả quyền hành, phần đông lại xuất thân từ thành phần tiểu tư sản thành thị và nông thôn. Do đó những yếu tố tự phát rất khó tránh khỏi của người đảng viên trong tình hình mới. Rõ ràng khi bắt đầu một chiến lược cách mạng mới…, chúng ta đã thiếu một sự chuẩn bị cần thiết để cho đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ sức vượt aưa những tình huống, những trận địa, những cạm bẫy cực kv phức tạo và khó khăn, phải trả giá bằng cả phẩm chất, nấng lực và bản lĩnh chính trị. Mặt khác, trong một thòi gian dài trưởc đây, cơ chế hành chính quan liêu bao cấp đã làm cho người đảng viên thụ động, ỷ lại, dựa dẫm quvền hành, mất sức chiến đấu, làm hạn chế tính năng động, sáng tạo – vốn là đặc trưng của một Dẳng tiên phong. Đó chính là nguyên nhân sâu xa nhất làm cho đội ngũ đổng viên chúng ta đông mà không mạnh, đảng viên nhiều mà chất lượng không cao, nhiều đảng viên thoái hóa, biến chất, nhiều đảng viên trung bình thậm chí có cả đáng’ viên không hơn quần chúng cả về phẩm chất và ý thức chính trị.
Đại hội VII lần này của Đảng đã đề ra Cương lĩnh, Chiến lược kinh tế – xã hội và các nhiệm vụ chính trị tiếp tục nâng cao công cuộc đổi mới. Một điều phải khẳng định dứt khoát tiếp theo, đó là phải 1 xây đựng một Đảng vững mạnh, đủ sức làm tròn sứ mạng lịch sử, lãnh đạo xây dựng thành công đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội như Cương lĩnh đã nêu.
Để làm được diều đó, việc chỉnh đốn Đảng, xây dựng Đảng, đối mới phương thức hoạt động của Đảng ta hiện nay phải là sự nghiệp ‘lổn lao, vừa cấp bách, vừa lâu dài. Đảng bộ thành phô” Hồ Chí Minh thi hành chủ trương của Trung ương về củng cố Đảng, lầm trong sạch hóa đội ngũ đảng viên đã có một số kết quả và kinh nghiệm ban đầu theo hương chỉnh đốn Đảng. Nhưng so với yêu cầu của Đại hội lẩn này thì còn phải nỗ lực phấn đấu cật lực hơn nữa, không phải là một dẹt, cũng không phải là một năm, mà phải là một sự nghiệp có tầm chiến lược nối tiếp nhiều thế hệ.
Công việc quan trọng có ý nghĩa quyết định trong công tác xây dựng Đảng hiện nay là phải khẩn trương đào tạo mói, đào tạo lại, phát động toàn Đảng dấy lên một ý chí, một phong trào tự học, tự rèn luyện, từ lập trường quan điểm của giai cấp công nhân đến những kiến thức khoa học và quản lý… làm cho tất cả đảng viên phải thật sự có ý thức tự giác, tự chỉnh đôn mình; triệt để chống tính tự mãn và tự phát một cách không mệt mỏi. Có như vậy, Cương lĩnh của Đảng, Chiến lược kinh tế – xã hội và các Nghị quyết lần này của Đại hội VII mới có co’ sở thực hiện, mởi có điều kiện để đưa vào cuộc sông, biến thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy công cuộc đổi mói đạt được những thành quả to lớn hơn nữa, có thể nói rằng trong bất cứ tình huống nào, chúng ta cũng phải hạ quyết tâm xây dựng Đảng ta mãi mãi là một Đảng Mác xít -Lêninnít khoa học và sáng tạo, một Đảng Hồ Chí Minh bất diệt.
Thay mặt Đảng bộ và các giới đồng bào thành phố, đoàn Đại biểu thành phố Hồ Chí Minh chân thành chúc sức khoẻ các đồng chí đại biểu và chúc Đại hội thành công.
Xỉn cám ơn các đồng chí và các bạn !

THAM LUẬN TẠI ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ.

CƠ CHẾ MỘT CỬA TẠI CHỖ”, MỘT GIẢI PHÁP GÓP PHẦN LÀM CHO HỆ THỐNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG SẠCH VỮNG MẠNH.

            Trong báo cáo các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của đảng bộ thành phố trình Đại Hội đại biểu Đảng Bộ thành phố lần thứ VII, phần đề cập đến vấn đề đầu tư trực tiếp nước ngoài có nêu rõ: “ Thành phố là nơi đi đầu trong cả nước về phát triển các khu chế xuất, khu công nghiệp và có thể nói cũng là nơi thành công nhất so với cả nước, nhất là về các nơi chế xuất. Khu chế xuất Tân Thuận là một trong những khu chế xuất thành công của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương hiện nay. Nhiều thủ tục hành chính trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài được cải tiến và đơn giản hóa. Cơ chế “ một cửa tại chỗ được áp dụng tại các khu chế xuất, khu công nghiệp được các nhà đầu tư nước ngoài hoan nghênh”. Chúng tôi rất đồng tình với nội dung đánh giá vừa nêu trên. Nhân đại hội nhiệm kỳ này, thông qua thực tiễn gần 10 năm xây dựng KCX- KCN, chúng tôi xin được trình bày với đại hội một số đánh giá nhận xét rút kinh nghiệm về “ cơ chế một cửa tại chỗ”, coi đây là một trong những giải pháp để quản lý nhà nước  có hiệu quả trong tình hình đổi mới mở cửa không phải chỉ cho KCX – KCN mà có ý nghĩa thực cho cả nên kinh tế thành phố.

Tại sao lâu nay Đảng ta và chính phủ ta kêu gọi cải tiến thủ tục hành chính, chống tham nhũng, kiện toàn bộ máy tổ chức tinh gọn, lãnh đạo quản lý phải nhất quán.v.v…. nhưng thực tế chưa đạt được kết quả bao nhiêu? Vì lâu nay ta chú ý nhiều về mệnh lệnh hành chính, hay công tác giáo dục chính trị tư tưởng chung chung trong quản lý  mà vấn đề chủ yếu là phải đưa toàn bộ hệ thống quản lý nhà nước vào cơ chế mới để “ rèn luyện, thử thách” và “ cải tổ” một cách tự giác, trong đó “ cơ chế quản lý một cửa tại chỗ” có tầm quan trọng đặc biệt. Một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự thành công của các KCX – KCN ở  thành phố Hồ Chí Minh là nhờ thực hiện “cơ chế một cửa tại chỗ” như sau :

  1. Để thực hiện quyền quản lý nhà nước, chính phủ đã cấp cho Ban quản lý KCX- KCN con dấu Quốc huy. Với con dấu này Ban quản lý được quyền cấp phép và quản lý sau giấy phép đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước . Nó đã tạo tư cách pháp lý cho ban quản lý trong cả đối nội và đối ngoại về kinh tế.
  2. Các bộ nghành liên quan thực hiện chế độ ủy quyền cho Ban quản lý được thay mặt các bộ nghành để điều hành quản lý tổng hợp trong KCX- KCN, thể hiện quyền lực tập trung thống nhất một đầu mối. Sau này khi có luật KCN thì chuyển từ chế độ ủy quyền sang chế độ “ Pháp quyền”, Ban quản lý dựa vào luật KCN mà điều hành.
  3. Ban quản lý thực hiện phương pháp quản lý theo quy trình được soạn thảo bằng văn bản và niêm yết quy trình công khai nơi làm việc của viên chức nhà nước nhằm để viên chức nhà nước thực hiện thủ tục hành chính theo chế độ một đầu mối có sự kiểm tra , giám sát của người xin làm thủ tục. Còn việc phải chạy đi nơi này nơi khác để “ bổ túc hồ sơ” là công việc của viên chức nhà nước chứ không phải là việc của người đi xin làm thủ tục. Có như thế ta mới hiểu thấu đáo tư tưởng lớn của Bác Hồ: “ Viên chức nhà nước là đầy tớ của dân” chứ không phải ngược lại. Còn đối với nhà đầu tư trong và ngoài nước viên chức là người phục vụ tích cực cho họ. Cán bộ viên chức nhà nước phải nhận thức rằng càng phục vụ tốt cho nhà đầu tư là taọ điều kiện thực hiện chức năng quản lý nhà nước có hiệu quả. Ở đây quản lý không phải chỉ là ra lệnh mà chủ yếu là giúp đỡ họ hoàn thành mọi yêu cầu một cách chính đáng, một cách nhanh chóng tiện lợi có hiệu quả theo luật pháp nhà nước  trên tinh thần: “ coi khó khăn của nhà đầu tư như khó khăn của chính mình” từ đó đã tạo ra môi trường đầu tư ngày càng tốt hơn.
  4. Muốn thực hiện có hiệu quả “ cơ chế quản lý nhà nước một cửa tại chỗ”, yếu tố quyết định là bộ máy tổ chức hợp lý và đội ngũ cán bộ có phẩm chất và năng lực đáp ứng công tác  kinh tế đối ngoại, đội ngũ đó không cần phải đông người với phương trâm dựa vào yêu cầu công việc mà bố trí cán bộ  phù hợp , trọng chất lượng cán bộ hơn số lượng.
  5. Để đảm bảo “cơ chế một cửa tại chỗ” có hiệu quả cần thực hiện cơ chế tự chủ tài chính cho Ban quản lý để chủ động tự trang trải mọi chi phí hoạt động với thu nhập hợp lý gắn liền hiệu quả công việc với lợi ích của từng viên chức nhà nước. Đó là cơ chế tài chính phù hợp với tính chất đặc thù của KCX – KCN.

Năm nội dung vừa nêu trên là những nhân tố hợp thành tạo nên sức mạnh và hiệu quả cho công tác quản lý nhà nước trong KCX – KCN trong thời gian qua.

Tuy “ cơ chế một cửa tại chỗ”, chưa được phát huy đầy đủ, còn nhiều mặt hạn chế nhất là trong chủ trương chính sách nhà nước từng lúc thiếu quan tâm đến tính đặc thù của KCX – KCN nên dễ “ cào bằng” giữa KCX – KCN với bên ngoài, nhưng đã có tác dụng lớn sau đây :

  1. Làm cho công tác quản lý nhà nước được tập trung thống nhất lớn. Vì lâu nay nhà đầu tư sợ  cách quản lý của ta là “ tiền hậu bất nhất” cấp dưới nói và làm khác cấp trên, ngay cả nội bộ một cơ quan, bộ phận  và cá nhân này nói khác với bộ phận và cá nhân khác trong cùng một vấn đề hoặc không thực hiện đúng như những điều được cam kết trong giấy phép, trong hợp đồng… vì vậy, với “ cơ chế một cửa tại chỗ” làm nhà đầu tư yên tâm hơn.
  2. Thủ tục hành chính nhanh chóng tiện lợi. Ví dụ : Nếu nhà đầu tư làm đầy đủ thủ tục theo quy định thì từ 5 ngày đến 7 ngày là Ban quản lý sẽ cấp giấy phép đầu tư.
  3. Từ việc tập trung thống nhất một đầu mối, thủ tục hành chính đơn giản theo “cơ chế một cửa tại chỗ” làm giảm thiểu sự phiền hà dẫn đến tác dụng hạn chế tối đa nạn tiêu cực tham nhũng làm cho nhà đầu tư họ tin tưởng hơn vào bộ máy và cán bộ nhà nước.
  4. Với cơ chế quản lý một cửa tại chỗ, Ban quản lý phải cân nhắc thận trọng trong chọn lựa bố chí cán bộ, mỗi viên chức phải đạt trình độ chuyên viên, có đạo đức, phẩm chất và năng lực để làm việc với các nhà đầu tư, phương châm cần công việc đến đâu bố trí cán bộ đến đó. Chính vì lẽ đó làm cho bộ máy quản lý nhà nước không cồng kềnh quan liêu, đội ngũ cán bộ vừa tinh vừa gọn để phù hợp với cơ chế quản lý một của tại chỗ. Do đó “ cơ chế một cửa tại chỗ” buộc cơ quan quản lý phải tinh giảm tối đa bộ máy và cán bộ quản lý một cách tự nguyện tự giác.
  5. Với cơ chế tự đảm bảo tài chính chẳng những giúp cho Ban quản lý tự chủ trong hoạt động theo “ cơ chế một cửa tại chỗ”, mà còn góp phần tiết kiệm rất lớn cho  ngân sách nhà nước với nguyên tắc tận dụng các nguồn thu hợp lý mà lâu nay không tận dụng được để tự trang trải mọi hoạt động mà không cần nhờ vả đến ngân sách nhà nước.

Tóm lại, với “ cơ chế một cửa tại chỗ” làm cho việc thực hiện chủ trương chính sách nhà nước nhất quán hơn, thủ tục hành chính đơn giản thuận lợi, hạn chế đến mức thấp nhất nạn tham nhũng, kiện toàn tinh giảm được bộ máy và cán bộ, tiết kiệm lớn ngân sách quốc gia, tăng năng lực và hiệu quả hoạt động cho viên chức nhà nước, từ đó tạo ra môi trường thu hút đầu tư hấp dẫn.

                                                                                                Nguyễn Chơn Trung

                                                                                                      ( Báo SGGP 12/2000)

NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM KHAI THÁC TIỀM NĂNG THẾ MẠNH VÀ NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG CƠ BẢN ĐỂ PHÁT HUY VÀ SỬ DỤNG CÓ HIỆU QUẢ KINH TẾ TƯ BẢN TƯ NHÂN

I.                   Thực trạng kinh tế, tư bản tư nhân ở thành phố Hồ Chí Minh

Nghị quyết hội nghị Trung ương lần thứ 6 ( 29/3/1989) có đoạn viết: “ Khuyến khích tư nhân đầu tư kinh doanh những nghành nghề lĩnh vực có có lợi cho quốc kế dân sinh, đồng thời đảm bảo sự kiểm soát và điều tiết của nhà nước hướng tư bản tư nhân từng bước đi vào kinh tế hợp tác xã và kinh tế tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức nhằm phát triển sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả kinh tế”.

Trong chiến lược kinh tế năm 1990 – 2000 có nêu rõ: “ Các công ty tư nhân ở nước ta hoạt động dưới sự kiểm soát và điều tiết của nhà nước, có quan hệ liên hệ ở mức độ khác nhau với kinh tế quốc doanh, ít nhiều mang tính chất tư bản nhà nước. Nhà  nước có thể góp vốn cổ phần hoặc cho thuê tài sản, vừa tạo điều kiện thêm sự kiểm soát và tích lũy của nhà nước trong doanh nghiệp tư nhân”.

Để thực hiện Nghị quyết và chủ trương nêu trên sau Đại hội VI, đặc biệt là từ đại hội VII của Đảng đến nay cùng với quá trình thực hiện chiến lược phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, kinh tế tư doanh ở thành phố Hồ Chí Minh đã có những bước phát triển đáng kể bao gồm doanh nghiệp tư doanh, công ty tư doanh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần….Tính đến giữa tháng 6/1996, trên địa bàn thành phố đã có 7.260 doanh nghiệp, trong đó số còn hoạt động 5.000 doanh nghiệp, công ty TNHH 3.932 doanh nghiệp, công ty cổ phần 83 doanh nghiệp, doanh nghiệp tư nhân 3.245 doanh nghiệp hoạt động theo luật doanh nghiệp tư nhân và luật công ty được thành phố cấp giấy phép hoạt động với tổng số vốn đăng ký 23.000 tỷ đồng. Năm 1996 tạo ra gồm 50.000 tỷ đồng doanh thu, nộp ngân sách 12.000 tỷ đồng đã sử dụng trên 135.000 lao động. Chỉ tính riêng số lượng cơ sở đăng ký ở thành phố Hồ Chí Minh băng hai lần Hà Nội và 50 lần  ở Hải Phòng. Quy mô vốn đăng ký kinh doanh bình quân một cơ sở là 749 triệu đồng ( tương đương 150 cây vàng ). Công Ty TNHH có số cơ sở và số vốn đăng ký cao nhất ( chiếm 73 % số cơ sở và 67,3 % số vốn ). Công ty cổ phần, có sổ cơ sở ít hơn ( 83 cơ sở ) nhưng đó là những cơ sở lớn có số vốn cao, bình quân một cơ sở bằng 10 lần công ty TNHH và 30 lần doanh nghiệp tư nhân. Doanh nghiệp tư nhân bình quân vốn một cơ sở là 207 triệu đồng.

Về lĩnh vực hoạt động, nhiều nhất là thương nghiệp, nhà hàng, khách sạn, kế đến là công nghiệp, xây dựng, dịch vụ và vận tải , v.v…. Công ty cổ phần tập trung ở ba nghành chính là ngân hàng, thương nghiệp và công nghiệp. Công ty TNHH quá 63 % số đơn vị hoạt động chính là thương nghiệp, 21 % số đơn vị đăng ký hoạt động công nghiệp và 11 % hoạt động nghành xây dựng, còn lại là các nghành khác chỉ chiếm 5 % doanh nghiệp tư nhân số đông là ở nghành thương nghiệp, dịch vụ 80 %, tiếp theo là công nghiệp 12 % các nghành khác 8 %.

Qua khảo sát thực tế cũng như đáng giá những người có trách nhiệm thì giữa vốn đăng ký kinh doanh và vốn thực tế hoạt động của các doanh nghiệp chênh lệch nhau rất lớn. Ước tính vốn thực tế hoạt động của các doanh nghiệp nhiều hơn vốn đăng ký 5-7 lần, có những doanh nghiệp thậm chí 10 -20 lần

Vấn đề này có thể do một số nguyên nhân sau :

-         Về phía các doanh nghiệp có ý định trốn thuế, cũng có thể là do phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp mở rộng sản xuất, và cũng có thể là do cả hai.

-         Về phía các cơ quan chức năng, việc quản lý còn có những sơ hở hoặc chính sách thuế chưa hợp lý.

Theo số liệu thống kê, một số cơ sở hoạt động hàng năm đều tăng nhanh, nhất là công ty TNHH và doanh nghiệp tư nhân trong hai năm gần đây.

Các doanh nghiệp, công ty tư  nhân đăng ký hoạt động ở nhiều nghành, nhưng tập trung nhiều nhất là sản xuất công nghiệp: 33 %, thương nghiệp 60 % , hai nghành này chiếm tới 83 % số cơ sở và 65 % tổng số vốn, kế đó là các nghành xây dựng, tài chính tín dụng, vận tải, nhà ở. Thấp nhất là nghành nông nghiệp ( 4 cơ sở 600 triệu đồng vốn ) Nghành Lâm nghiệp, bưu điện khoa học, giáo dục, văn hóa, y tế rất ít. Nhiều đơn vị xuất nhập khẩu trực tiếp.

Vốn được tích lũy từ trước, nhưng nguồn vốn này thường chỉ đủ đầu tư cho những doanh nghiệp loại nhỏ. Cơ sở loại khá, vốn lớn thì phần nhiều là có sự góp vốn của nước ngoài vào hỗ trợ cho đầu tư tư nhân thông qua : Thân nhân, bạn bè, quyen biết… đưa vào, với nhiều hình thức : hùn vốn, cho vay trả chậm, cho mượn, giúp đỡ, bằng trừ dần tiền trả công…. Không loại trừ hình thức chuyển ngân lậu. Điều này đặt ra cho ta suy nghĩ để tìm ra biện pháp, cách thức huy động vốn này của nước ngoài một cách có hiệu quả nhất.

Qua điều tra 454 đơn vị từ tổ hợp đến các doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty Cổ phần cho thấy có tới 90 % số máy móc thiết bị  ở tình trạng còn tốt, 2 % tình trạng trung bình, 8 % tình trạng cũ. Máy móc nhập từ nước ngoài chiếm tới 55 % trong đó có 35 % từ các nước phương Tây. Trình độ công nghệ : 26,7 % số doanh nghiệp với công nghệ hiện đại, 11,2 % số doanh nghiệp với trình độ công nghệ cổ truyền và 73 % số doanh nghiệp  kết hợp trình độ công nghệ hiện đại với công nghệ cổ truyền. Hiện nay có tới 50 % các doanh nghiệp tư nhân thành phố có hàng xuất khẩu ra nước ngoài. Qua đó cho thấy, các doanh nghiệp đã tăng cường đầu tư cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.

Trong ba loại hình công ty cổ phần, công ty TNHH thu hút nhiều lao động nhất ( 138 – 182  lao động ). Trong các cơ sở có quy mô doanh thu loại vửa ( 1-10 tỷ đồng/ năm ) đã thu hút gần một nửa sổ lao động hoạt động trong các doanh nghiệp trong nghành. Các cơ sở làm hàng xuất nhập khẩu có số lao động bình quân 250 người, gần bằng số lao động trong các doanh nghiệp quốc doanh thành phố ( XNGD :272 người ) trong đó ở công ty cổ phần 226 người ; công ty TNHH : 275 người, DNTN : 63, có nhiều cơ sở thu hút hàng ngàn lao động. Ngành thương nghiệp tuy có nhiều cơ sở, nhưng số lao động bình quân một cơ sở thấp ( 15,5 người ). Phần lớn các cơ sở có số lao động dưới 10 người ( 45,7 % ), dưới 20 người ( 80 % ) có 13 cơ sở trên 50 người và 23 cơ sở trên 100 người. Trong các công ty tài chính, tín dụng  thì số lao động bình quân 78 người. Như vậy, sự phát triển của các cơ sở tư doanh không chỉ góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng, phát triển của kinh tế, tạo nên những động lực cho nền kinh tế phát triển năng động hiệu quả mà còn góp phần đáng kể vào việc giải quyết  tình hình xã hội nan giải là việc làm cho người lao động.Do đó, sự phát triển của khu vực kinh tế tư  doanh không thuần túy chỉ thể hiện ở hiệu quả kinh tế đầy thuyết phục của nó mà còn hiệu quả kinh tế xã hội nữa.

Mặt được của kinh tế tư bản tư nhân.

  1. Với thành quả bước đầu chứng tỏ nền kinh tế tư bản tư nhân có vị trí vai trò là động lực góp phần quan trọng cho nền kinh tế xã hội khẳng định đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần của Đảng ta là phù hợp, đúng đắn, nó có khả năng góp phần cùng với kinh tế quốc doanh tạo nội lực của nền kinh tế quốc gia.
  2. Ngày càng xuất hiện nhiều doanh nghiệp lớn : có 44 đơn vị trên 100 tỷ đồng vồn kinh doanh ( 21 công ty cổ phần và 23 công ty TNHH; 18 ngân hàng cổ phần, 12 công ty thương nghiệp ), 9 công ty sản xuất công nghiệp, 4 công ty xây dựng và 1 công ty cổ phần vận tải ). Tuy chỉ chiếm 1 % tổng số công ty và doanh nghiệp tư nhân nhưng nó có một vị trí quan trọng: chiếm 14,2 % lao động, 68 % kinh doanh, 52 % vốn chủ sở hữu, 74 % vốn vay và huy động, 33,1 % doanh thu và tạo ra 51 % tổng lãi v.v… ( Theo cục thống kê Thành phố 1996 )

Nếu chúng ta có chính sách tốt hơn, quản lý chặt chẽ hơn sẽ tạo phát triển cho họ phát triển đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.

Mặt chưa được của kinh tế tư bản tư nhân:

-         Đang lưu ý là có 42,1 % giám đốc công ty và doanh nghiệp tư nhân chưa có bằng cấp chuyên môn. Chỉ có 7 % lao động có trình độ trung cấp kỹ thuật , 9,2 % có trình độ đại học, cao đẳng và trên đại học

-         Xu hướng phát triển còn nặng nề thương nghiệp dịch vụ, mà còn coi nhẹ phát triển sản xuất

-         Cơ chế quản lý nhà nước không đồng bộ và các chính sách không ổn định, không nhất quán nên các hoạt động kinh tế tư bản tư nhân còn chịu nhiều rủi ro, khó khăn, hiệu quả thấp, trên 27 % thua lỗ, hoạt động cầm chừng, hoặc phá sản.

-         Một số bộ phận biểu hiện nhiều mặt tiêu cực :

+ Khai man doanh thu để trốn thuế

+ Mua chuộc lũng đoạn cán bộ quản lý nhà nước

+ Mua bán bất động sản trái phép

+ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản XHCN

Nguyên nhân :

-         Bản chất tư bản tư nhân là chạy theo lợi nhuận bằng mọi giá trong khi trình độ chuyên môn lại thấp kém.

-         Quản lý nhà nước vừa gò bó vừa lỏng lẻo, kiểm kê, kiểm soát không chặt chẽ, luật pháp chưa đầy đủ nên còn nhiều khe hở trong quản lý dễ bị lợi dụng

II.               Những giải pháp nhằm khai thác tiềm năng thế mạnh của tư bản và những định hướng cơ bản đê phát huy và sử dụng có hiệu quả kinh tế tư bản tư nhân.

Hiện nay, ở Tp Hồ Chí Minh, các doanh nghiệp của người Hoa trở thành thực lực của nền kinh tế thành phố làm lực lượng đối trọng, đối tác với tư bản bên ngoài. Để làm được điều này cần phải :

-         Quán triệt  đầy đủ quan điểm của Đảng về vị trí người Hoa trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, trong cơ chế XHCN. Đảm bảo cho người Hoa được hưởng  mọi nghĩa vụ  và quyền lợi công dân Việt Nam, tôn trọng văn hóa, chữ viết, tạo điều kiện để bà con yên tâm làm ăn, góp phần xây dựng đất nước. Xây dựng tình đoàn kết chân hòa giữa người Hoa và các dân tộc Việt Nam

-         Phát huy khả năng, tiềm  năng kinh tế của người Hoa, góp phần thực hiện định hướng chiến lược phát triển kinh tế xã hội thành phố, khuyến khích các nhà công thương người Hoa đầu tư phát triển công nghiệp, nông nghiệp  và cơ sở hạ tầng. Khuyến khích người Hoa thu hút đầu tư của nước ngoài thông qua mối quan hệ thân nhân bằng nhiều hình thức liên doanh, hợp tác, kiều hối… theo luật pháp Việt Nam.

-         Nghiên cứu tạo điều kiện để một số cơ sở công thương nghiệp người Hoa mở rộng  thành các công ty cổ phần hoặc các tập đoàn có nhiều tiềm năng lớn và phong phú gồm nhiều  loại hình sở hữu mang tính chất kinh tế CNTBNN. Trên cơ sở đó từng bước đưa vốn doanh nghiệp nhà nước vào các công ty cổ phần, các tập đoàn, đặc biệt là các ngân hàng thương mại cổ phần.

-         Tăng cường kiểm tra giám sát chặt chẽ tạo điều kiện cho tư bản tư nhân người Hoa hoạt động đúng hướng.

-         Phải thành lập tổ chức Đảng và các đoàn thể trong các tổ chức kinh tế người Hoa đảm bảo họ đi đúng hướng theo con đường CHCN. Bên cạnh đó, nhà nước cần đào tạo một đội ngũ cán bộ quản lý KHKT người Hoa.

-         Củng cố tăng cường ban công tác người Hoa để làm tham mưu tốt cho Đảng trong công tác Hoa vận, vừa tham mưu cho chính quyền quản lý nhà nước về kinh tế xã hội của người  Hoa, tập trung ở các quận 5, 11, 6, 8, và quận 10 có đông bà con người Hoa.

Nghành nào tư nhân làm ăn có hiệu quả hơn quốc doanh thì chuyển cho tư nhân. Ngoài việc khuyến khích  tư nhân đầu tư mới , cần giải quyết số 30 % DNQD đã thua lỗ từ lâu, không có khả năng phục hồi, bằng cách bán lại cơ xưởng máy móc cho tư nhân. Nhưng nghành nghề nào đòi hỏi vốn nhỏ ( doanh nghiệp nhỏ ) thì cũng nhường cho tư nhân, có thể tổ chức các xí nghiệp quốc doanh lớn. Cho phép tư nhân được sản xuất kinh doanh trên các nghành công nghiệp, thương mại, xuất khẩu, ngân hàng, … ngoại trừ lĩnh vực quốc phòng an ninh,  hay mặt hàng then chốt nhà nước phải độc quyển sản xuất kinh doanh. Nói chung họ được quyền làm những gì mà nhà nước không cấm trên cơ sở có quy hoạch và kế hoạch nhà nước để ngăn chặn tình trạng phát triển tự phát và tiêu cực. Huy động năng lực kinh tế  tư nhân đi vào sản xuất đổi mới thiết bị  và công nghệ tiên tiến, cơ sở hạ tầng trên cơ sở khuyến khích họ huy động vồn thông qua kiều hối ( vàng, ngoại tệ, nguyên liệu…) Nhà nước cần cho phép tư bản tư nhân liên doanh với kinh tế quốc doanh, làm thí điểm xây dựng khu công nghiệp tập trung sản xuất hàng tiêu dùng và xuất khẩu trên cơ sở huy động vốn trong nước và nước ngoài .

-         Về quy mô phát triển là không hạn chế, họ có thể phát triển ở quy mô lớn trong phạm vi nghành nghề mà phát luật nhà nước cho phép và được tồn tại lâu dài . cho phép xây dựng các tập đoàn kinh tế tư nhân chuyên nghành hay tổng hợp. Phải cho tư bản tư bản tư nhân phát triển theo quỹ đạo quản lý nhà nước nhằm biến họ thành lực lượng kinh tế có khả năng đối đầu, cạnh tranh với tư bản nhà nước ngoài.

-         Cần quan tâm đến tổ chức Đảng và đoàn thể ở các cơ sở kinh tế tư bản tư doanh với nội dung và phương thức thích hợp. Củng cố lại hiệp hội công thương thành phố nhằm đảm bảo giúp nhau thực hiện tốt mọi chủ trương chính đáng của nhà tư bản tư doanh. Đồng thời xây dựng Đảng trong hiệp hội Công Thương nhằm tạo điều kiện lãnh đạo trực tiếp tổ chức này.

Để phát triển đúng mức thành phần này, thành phố cần “

-         Áp dung đúng mức luật khuyến khích đầu tư trong nước, luật công ty và luật kinh tế tư nhân. Cần hoàn thiện sớm luật khuyến khích đầu tư trong nước.

-         Trong ba hình thức công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty tư nhân cần đặc biệt quan tâm đến hình thức cổ phần

-         Sử dụng chính sách thuế hợp lý, công bằng theo nguyên tắc nơi nào nhà nước khuyến khích tư nhân đầu tư nơi đó có chính sách miễn giảm thuế và chính sách tín dụng ưu đãi.

-         Thành lập quỹ bảo trợ các doanh nghiệp ngoài quốc doanh để phòng rủi ro.

-         Cần đưa vốn nhà nước vào các công ty cổ phần, công ty tư nhân có quy mô lớn.

-         Khi cần, trên một số nghành nghề quan trọng và cần thiết nên bố trí Đảng viên, Đoàn viên có đầy đủ năng lực phẩm chất đi vào trong các doanh nghiệp tư bản, tư nhân tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh để có khả năng định hướng lĩnh vực này đi vào quỹ đạo XHCN.

-         Có quy chế tiêu chuẩn Giám đốc, công ty, tất cả đều phải được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ. Nhà nước chỉ cấp giấy phép hoạt động khi nào các công ty bố trí cán bộ đúng tiêu chuẩn qui định

-         Chính quyền các cấp phải thật sự trong sạch vững mạnh đủ năng lực và bản lĩnh để quản lý kinh tế tư bản tư nhân thực hiện sự kê kiểm soát nghiêm ngặt

Tóm lại, có người cho rằng nếu ta cho tư bản tư nhân phát triển tơi mức nào đó họ sẽ trở thành giai cấp tư sản tạo thành lực lượng kinh tế chính trị, điều đó sẽ tạo ra sự bất lợi cho định hướng XHNC.

Theo Lê nin, tư bản nhà nước là sự hoạt động của tư bản tư nhân dưới sự kiểm soát của nhà nước CNXH. Tư bản tư nhân hoạt động có lợi cho quốc kế dân sinh trong giới hạn của XHCN quy định. Như vậy tư bản nhà nước không phải là giai cấp tư bản độc quyển mà chỉ là những nhà tư sản riêng biệt hoạt động trong khuôn khổ nhà nước XHCN. Trong quan hệ với tư bản không phải nhà nước vô sản phụ thuộc vào nhà tư bản mà trái lại chính nhà tư bản phụ thuộc vào nhà nước vô sản ( cả về kinh tế  lẫn chính trị ) và hoạt động trên cơ sở phục vụ cho giai cấp vô sản theo định hướng XHCN.

                                                                                                      TS. Nguyễn Chơn Trung

                                                                                                                              12/7/1997