Phần thứ ba

Vấn đề thực hiện
Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước trong phát triển kinh tế – xã hội
ở nước ta nói chung
và ở TP. Hồ Chí Minh nói riêng

Chương V
Sự cần thiết phải thực hiện Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước ở nước ta hiện nay

1. Đặc điểm và chủ trương xây dựng CNXH và phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường định hướng CNXH ở Việt Nam

Theo nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, một nước đi lên CNXH từ một nền kinh tế TBCN đã phát triển cao không cần đến một giai đoạn phát triển trung gian nào khác. Những điều kiện về vật chất, kinh tế – kỹ thuật, tổ chức và văn hóa – xã hội cho bước chuyển đó đã hình thành và chín muồi trong nền kinh tế TBCN phát triển cao. Mỗi khi nói đến điều kiện vật chất cho sự hình thành CNXH chúng ta thường cho rằng đó là nền đại công nghiệp. Cách nói đó không sai nhưng không đầy đủ và quá đơn giản. Còn nếu hiểu đại công nghiệp đó chỉ là việc xây dựng nên các doanh nghiệp lớn là một cách hiểu vô cùng phiến diện, nghèo nàn, quá sơ sài về những điều kiện vật chất cho CNXH. Vấn đề không chỉ ở nền đại công nghiệp cơ khí mà còn là toàn bộ những mối liên hệ kinh tế và những quan hệ tổ chức toàn bộ nền kinh tế quốc dân mà nó tạo ra. Đó là một nền sản xuất công nghiệp có tổ chức, có kế hoạch, gắn liền với sự điều tiết của Nhà nước, phục tùng Nhà nước, đó là toàn bộ hệ thống kinh tế quy mô lớn, là hệ thống các cơ chế, các công cụ điều tiết, các tổ chức kinh tế như ngân hàng, hệ thống phân phối thu nhập quốc dân, các bộ máy quản lý. Nghĩa là toàn bộ những thể chế vật chất và tổ chức của một nền kinh tế hiện đại. Tất cả những cái đó hợp thành những điều kiện vật chất cho sự ra đời của CNXH.

Nói một cách vắn tắt rằng, muốn có CNXH cần phải có những điều kiện căn bản là: 1/- Phải có một cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện đại, xây dựng trên cơ sở những thành tựu mới nhất của khoa học hiện đại; 2/ Phải có tổ chức Nhà nước hoạt động quản lý điều tiết có kế hoạch mang tính định hướng chiến lược (không phải tập trung quan liêu, bao cấp); 3/ Giai cấp công nhân cùng với tầng lớp trí thức của mình, là giai cấp đại biểu cho lực lượng sản xuất tiến bộ, tiêu biểu cho xu thế phát triển của thời đại, phải là giai cấp lãnh đạo.

Sau khi làm cách mạng dân tộc, dân chủ, nhân dân do giai cấp công nhân và nhân dân lao động lãnh đạo thành công, giai cấp công nhân và nhân dân lao động đã giành được chính quyền, chúng ta đã có tiền đề chính trị để đưa đất nước phát triển theo định hướng CNXH. Song, cho đến nay, về cơ bản, đất nước ta vẫn còn ở trình độ của một nước tiểu nông. Nền kinh tế nước ta hiện có tới 80% dân số sống và làm việc ở khu vực kinh tế nông thôn, với mật độ dân số cực kỳ cao trên đất nông nghiệp (900 người trên 1 cây số vuông đất nông nghiệp) điều kiện kỹ thuật canh tác lạc hậu. Việt Nam là một trong những nước nghèo nhất thế giới. Nền kinh tế phổ biến là sản xuất nhỏ với máy móc thiết bị lạc hậu, què quặt. (Thành phố Hồ Chí Minh sau gần 10 năm mở cửa các doanh nghiệp được trang bị hiện đại chỉ chiếm 10%). Trình độ tổ chức và quản lý nền kinh tế phân tán thiếu kế hoạch thống nhất. Vì vậy một khi trình độ phát triển lực lượng sản xuất của nền sản xuất nhỏ chưa cho phép triển khai đầy đủ hệ thống sản xuất có kế hoạch thì sự hình thành CNTBNN dưới các hình thức khác nhau là một bước thụt lùi hợp lý, một cách thích nghi của các quan hệ sản xuất mới với trình độ phát triển lực lượng sản xuất và năng lực quản lý hiện có.

Là nhà ái quốc vĩ đại, vị lãnh tụ kính yêu của toàn Đảng và toàn dân tộc, người đầu tiên tiếp thu và truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam, ngay từ những năm kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những quan điểm tư tưởng hàm chứa sự vận dụng CNTBNN của V.I Lênin vào công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta sau khi kháng chiến thành công.

Ngay từ năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hoan nghênh tư bản nước ngoài vào đầu tư ở nước ta, nhưng trên nguyên tắc hai bên cùng có lợi và bình đẳng, chứ không phải vào để ràng buộc áp chế. Khi trả lời một nhà báo nước ngoài phỏng vấn Hồ Chủ tịch về thái độ của Việt Nam đối với tư bản ngoại quốc sau khi giành được độc lập. Người nói: “Sau 80 năm bị thực dân Pháp vơ vét, bóc lột và mấy năm bị thực dân Pháp tàn phá, cướp bóc, nước Việt Nam độc lập cần phải ra sức kiến thiết. Bất kỳ nước nào (gồm cả Pháp) thật thà muốn đưa tư bản đến kinh doanh ở Việt Nam với mục đích làm lợi cho cả hai bên, thì Việt nam sẽ rất hoan nghênh. Bất kỳ nước nào (gồm cả nước Pháp) mong đưa tư bản đến để ràng buộc áp chế, Việt Nam sẽ cương quyết cự tuyệt” [16,4 – 5].

Năm 1953, khi nói về các thành phần kinh tế đang tồn tại ở nước ta và trong chế độ xã hội mới, Hồ Chủ tịch đã nói đến sự tồn tại của CNTBNN, coi nó là thành phần mang tính chất nửa XHCN. Tháng 5 năm 1953, trong một bài báo đăng trên tờ “Cứu quốc” (số 2344, ngày 25-5-1953), với nhan đề “Thành phần kinh tế ở nước ta”, Hồ Chủ tịch đã chỉ rõ: “Kinh tế ở nước ta hiện có những thành phần sau:

– Kinh tế địa chủ phong kiến, bóc lột địa tô.

– Kinh tế quốc doanh có tính chất XHCN.

– Các HTX tiêu thụ và HTX cung cấp có tính chất nửa XHCN.

– Kinh tế cá nhân của nông dân và của thủ công nghệ, họ thường tự túc, ít có gì bán mà cũng ít khi mua gì. Đó là một thứ kinh tế lạc hậu.

– Kinh tế tư bản tư nhân. Họ bóc lột công nhân nhưng đồng thời họ cũng góp phần vào xây dựng kinh tế.

– Kinh tế tư bản quốc gia là Nhà nước hùn vốn với tư nhân để kinh doanh và do Nhà nước lãnh đạo. Trong loại này, tư bản của tư nhân là CNTB. Tư bản của Nhà nước là CNXH [18,346].

Tháng 9 năm 1953, trong một bài báo với nhan đề “Dân chủ mới” cũng đăng trên báo “Cứu quốc” (Số 2418, ngày 7-9-1953), Hồ Chủ tịch đã chỉ ra 5 thành phần kinh tế tồn tại trong chế độ mới. Người viết:

“Trong chế độ dân chủ mới có năm loại hình kinh tế khác nhau: kinh tế quốc doanh, hợp tác xã, cá thể, tư bản tư nhân, tư bản nhà nước, trong đó kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo…

– Đảng lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân lao động thực hiện dân chủ mới, tiến dần lên chủ nghĩa xã hội” [18,390].

Quan điểm tư tưởng vận dụng CNTBNN của Lênin của Bác Hồ có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, mang tính thời sự cấp thiết. Ngày nay chúng ta có thể coi đó là chủ trương, là phương châm chỉ đạo chiến lược của Bác trong việc vận dụng CNTBNN hiện nay. Kế thừa học thuyết Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về CNTBNN, Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: “Quá trình từ sản xuất nhỏ đi lên sản xuất lớn ở nước ta là quá trình chuyển hóa từ kinh tế còn nhiều tính chất tự cấp, tự túc thành nền kinh tế hàng hóa. Chúng ta quản lý có kế hoạch một nền kinh tế sản xuất hàng hóa với những đặc điểm của thời kỳ quá độ. Việc sử dụng đầy đủ và đúng đắn quan hệ hàng hóa tiền tệ trong kế hoạch nền kinh tế quốc dân là một tất yếu khách quan” [20]. Từ đó Đảng ta đã đưa ra những quan điểm đổi mới hết sức quan trọng là: Thực hiện nhất quán cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, giải phóng mọi năng lực sản xuất, coi đó là chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ nền sản xuất nhỏ đi lên CNXH và thể hiện tinh thần dân chủ về kinh tế đảm bảo cho mọi người tự do làm ăn theo pháp luật. Vì vậy, các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất vốn có bản chất riêng, nhưng trong hoạt động sản xuất kinh doanh không ngăn cách nhau mà có nhiều loại hình hỗn hợp, đan kết nhau. Hướng kinh tế tư nhân từng bước vào kinh tế hợp tác xã… và kinh tế TBNN dưới nhiều hình thức nhằm phát triển sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả kinh tế.

Nghị quyết Đại hội VII đã vạch rõ nét hơn mô hình đi lên CNXH là: Xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý Nhà nước XHCN theo định hướng XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng với mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh. Trong giai đoạn này ta vừa phải phấn đấu đuổi kịp CNTB về khoa học công nghệ, kinh nghiệm quản lý tiên tiến. Mặt khác, như Hồ Chủ tịch đã nói, vì: “Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới chưa từng có trong lịch sử dân tộc, chúng ta phải thay đổi triệt để những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng ngàn năm” [15,69].

Điều kiện tiên quyết để đạt mục tiêu tăng trưởng cao, tiến hành xây dựng được cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện đại cho CNXH ở nước ta, Đảng và Nhà nước chủ trương tiến hành công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước với nội dung cơ bản là thực hiện một chiến lược cơ cấu hợp lý, tiếp thu nhanh chóng, có hiệu quả các công nghệ tiên tiến của thế giới. Đồng thời phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường định hướng XHCN, là chuyển tất cả các đơn vị kinh tế sang hạch toán kinh doanh trên cơ sở phát triển nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch gồm nhiều thành phần đi lên CNXH, khẳng định tính thống nhất của thị trường xã hội trong nước và gắn với thị trường thế giới, thực hiện chính sách đổi mới mở cửa cả bên trong và bên ngoài, tôn trọng và vận dụng đầy đủ các quy luật khách quan của kinh tế hàng hóa.

Nhà nước phải đổi mới và nâng cao chất lượng kế hoạch hóa ở tầm mô, thực hiện sự kiểm kê, kiểm soát đối với các hoạt động kinh tế. Xây dựng chính sách tài chính quốc gia và các chính sách tín dụng, giá cả, tiền tệ, tiền lương, khuyến khích hạch toán kinh doanh xây dựng luật kinh tế, ban hành chính sách kinh tế đối ngoại, tăng cường các quan hệ trao đổi buôn bán và hợp doanh trong sản xuất, phê chuẩn và ban hành luật đầu tư nước ngoài, luật công ty, luật khuyến khích đầu tư trong nước, luật phá sản các doanh nghiệp, đất đai…

Các quan điểm chủ trương đổi mới vừa nêu trên, về thực chất, là xác định lại một cách hiện thực, theo đúng bản chất và nội dung kinh tế căn bản của thời kỳ quá độ lên CNXH, khác hẳn với những xác định trước đây, trong đó có nội dung thuộc về phạm trù CNTBNN, là nội dung kinh tế chính trị tổng quát của thời kỳ quá độ tiến lên CNXH ở nước ta. Đó là các chính sách, biện pháp, phương thức, con đường thực hiện về mặt kinh tế đối với các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH.

2. Vai trò của CNTBNN ở nước ta hiện nay

CNTBNN là con đường đi lên CNXH trong thời kỳ quá độ, là nhân tố cực kỳ quan trọng thúc đẩy nền kinh tế xã hội phát triển theo định hướng XHCN. Như đã nói ở trên, nền kinh tế nước ta căn bản vẫn là tiểu nông, tính tự phát vô chính phủ của những người sản xuất nhỏ rất cần có CNTBNN để đưa họ vào quỹ đạo của CNXH, tức là định hướng XHCN. Cuộc đấu tranh giữa các thành phần kinh tế (vừa hợp tác liên kết vừa đấu tranh) diễn ra không phải giữa CNTBNN và CNXH, mà chủ yếu giữa một bên là kinh tế TBTN và kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ và một bên là CNTBNN và CNXH. Thế lực tự phát của tiểu tư sản và sự thèm khát lợi nhuận nhiều hơn, đã chống lại mọi sự kiểm kê, kiểm soát của Nhà nước. Nạn đầu cơ nhỏ rất nhiều và có xu hướng lan rộng. Nếu những hình thức kinh tế của CNTBNN được xác định thì sẽ có lợi cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động làm ăn chân chính, Nhà nước sẽ thắng được sự hoạt động lộn xộn về kinh tế, thắng được sự phá hoại của tính tự phát. Thông qua CNTBNN mà ta sẽ kiểm kê, kiểm soát được nền kinh tế bằng pháp luật và thông qua đó mà ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng tiêu cực, vừa đẩy mạnh sản xuất góp phần chăm lo đời sống nhân dân giải quyết công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người lao động giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường của đất nước. Đồng thời qua đó, chống lại chủ nghĩa giáo điều, đẩy lùi chủ nghĩa quan liêu bao cấp, xây dựng nền kinh tế năng động tiếp cận nhanh chóng xu thế phát triển chung của thế giới.

Hơn nữa chúng ta đang tiến hành đường lối chiến lược công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Nhu cầu về vốn đầu tư cho sự nghiệp đó trong vòng mười năm tới là khoảng 45-50 tỷ USD và còn tăng thêm đến hàng trăm tỷ trong những thập niên tới. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi phải có thành tựu mới về khoa học và công nghệ mới, tiên tiến, hiện đại. Phải thừa nhận rằng, CNTB hiện đại đang chiếm lĩnh những đỉnh cao của nền tảng kỹ thuật thế giới, họ biết lợi dụng tối đa, có hiệu quả những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật hiện đại đưa nền kinh tế thế giới mang tính “toàn cầu hóa”, làm cho quan hệ tùy thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng tăng lên. Thế giới trong cục diện vừa hợp tác, vừa đấu tranh, đấu tranh để hợp tác, đất nước ta có được hoàn cảnh quốc tế thuận lợi để mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, hòa nhập vào nền kinh tế thế giới. Muốn hòa nhập vào thị trường thế giới đòi hỏi chúng ta phải chuyển sang kinh tế thị trường, tức là một hình thức biểu hiện của sự vận dụng CNTBNN. Mặt khác, đại bộ phận các công ty đa quốc gia là của các nước tư bản phát triển và đang phát triển ở giai đoạn tương đối cao của CNTB đang có nhu cầu xuất khẩu tư bản sang các nước kém phát triển. Bởi vậy để có thể thu hút ngày càng nhiều nguồn tư bản từ các công ty đa quốc gia và xuyên quốc gia, từ các nước TBCN để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển đất nước, chúng ta phải thực hành CNTBNN trong thời gian tương đối dài. Nó có tác dụng kích thích lợi ích cá nhân làm động lực cho sự phát triển. Nó là công cụ đắc lực huy động được sức người, sức của, nhất là trong việc thu hút vốn đầu tư trong nước và ngoài nước. Thông qua CNTBNN mà tiếp cận và khai thác được nền khoa học – kỹ thuật tiên tiến làm cơ sở thực hiện chương trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó có công nghiệp hóa nông thôn, nông nghiệp, tận dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động.

Với những vai trò trên, cho chúng ta thấy sự cần thiết quan trọng của CNTBNN và việc vận dụng sáng tạo CNTBNN vào hoàn cảnh đất nước là tất yếu khách quan, là phù hợp với quy luật phát triển chung.

Tuy nhiên bên cạnh những tác dụng tích cực, có những tác dụng tiêu cực do tính phức tạp của nền kinh tế thị trường, được Lênin mô tả đó là cuộc chiến tranh không có xe tăng, đại bác.

Đánh giá vai trò của CNTBNN ở nước ta hiện nay, báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII có đoạn viết: “Trong công cuộc đổi mới, chúng ta đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, đặc biệt là tư tưởng của Lênin về chính sách kinh tế mới, về CNTBNN với nhiều hình thức đa dạng phong phú phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể để đưa đất nước ta từng bước quá độ lên CNXH” [21].

Sự khẳng định này của Đảng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng thừa nhận trong sự nghiệp đổi mới, mở cửa của chúng ta thực chất là chúng ta vận dụng sáng tạo học thuyết của Lênin về chính sách kinh tế mới, về CNTBNN và đã đưa đất nước ta vượt qua khủng hoảng và phát triển. Điều đó càng nói lên CNTBNN không những có ý nghĩa về lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn – để đưa đất nước từ nền sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN, để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Hoàn cảnh quốc tế và trong nước khi áp dụng CNTBNN ở nước ta hiện nay có tính đặc thù khác nhiều với nước Nga khi thực hiện CNTBNN trước đây:

1. Nước Nga thực hiện CNTBNN trong điều kiện bị bao vây cô lập của chủ nghĩa đế quốc, còn Việt Nam tuy vẫn còn nhiều âm mưu phá hoại nền kinh tế của các thế lực thù địch nhưng đã vượt qua được thử thách và phá thế bao vây cô lập, mở cửa nền kinh tế và quan hệ đối ngoại với phương châm đa phương hóa và đa dạng hóa, thế giới đang trong quá trình vừa đấu tranh vừa hợp tác, liên kết, hòa hợp, Việt Nam là thành viên của ASEAN.

2. Nước Nga vận dụng CNTBNN trong điều kiện xã hội chia rẽ sâu sắc, đấu tranh giai cấp quyết liệt, quan điểm chính trị đối lập nhiều, còn ở ta hiện nay tuy còn không ít thế lực chống đối trong và ngoài nước nhưng về cơ bản chỉ có một Đảng thống nhất lãnh đạo, chủ trương đường lối quan điểm thống nhất, đoàn kết dân tộc đi lên CNXH.

3. Tiềm lực kinh tế nhà nước của nước Nga nhìn chung còn yếu, còn của ta kinh tế Nhà nước tuy còn nhiều mặt yếu kém nhưng có khả năng đóng vai trò chủ đạo nền kinh tế, nên vai trò của CNTBNN không phải bao trùm như ở nước Nga thời bấy giờ.

4. Các hình thức của CNTBNN hiện nay của nước ta cho phép vận dụng phong phú đa dạng hơn nước Nga lúc bấy giờ.

Thấm nhuần học thuyết của Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về CNTBNN tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới mở cửa là yếu tố quyết định thực hiện CNXH thành công làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh, con người được tự do, hạnh phúc. Đó là chúng ta thực hiện tốt đẹp di chúc thiêng liêng của Bác Hồ.

Chương VI
Thực trạng phát triển CNTBNN
ở thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh có tổng diện tích 2056km2, với khu vực nội thành và vùng phụ cận có khả năng mở rộng đô thị là 947km2, hiện có 18 quận huyện, với tổng số dân là 4,9 triệu người và 2,4 triệu lao động(1). Là thành phố trung tâm, thủ phủ của các tỉnh Nam bộ, phía bắc giáp Tây Ninh, đông giáp các tỉnh Đồng Nai và Sông Bé, tây giáp tỉnh Long An và phía nam thông ra biển. Nằm giữa hai hệ thống sông Đồng Nai và Cửu Long, với ba cửa sông dẫn từ biển lên tạo thành những cảng lớn, tạo điều kiện cho Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một trung tâm đô thị liên kết các tỉnh miền Đông và miền Tây Nam bộ.

Là một thành phố có quy mô lớn không chỉ so sánh với các thành phố khác của nước ta, mà cả với các thành phố trong khu vực Đông Nam Á. Ngay từ thời Pháp thuộc, Sài Gòn từng được coi là “hòn ngọc Viễn Đông”, là một thành phố được xếp vào loại đô thị lớn, phát triển và “hoa lệ” của khu vực Đông Nam Á. Sài Gòn cũng là một trong những nơi có truyền thống đi đầu trong công cuộc mở cửa thị trường giao lưu với thế giới. Sau Phố Hiến (Hưng Yên) 1533 vào thế kỷ XVI – XVII, kế đó là Hội An giữa thế kỷ XVIII, vào giữa thế kỷ XVIII, Sài Gòn nổi lên thành trung tâm thương mại quốc tế. Đó là truyền thống năng động, sáng tạo, luôn luôn chọn cái mới, luôn đổi mới. Từ năm 1975 đến nay, thành phố luôn luôn là lực lượng đi đầu trong công cuộc đổi mới, với nhiều hiện tượng “xé rào” làm nên những bài học thực tiễn quý báu cho công cuộc đổi mới chung của cả nước [6].

Giá trị tổng sản lượng (GDP) trên địa bàn thành phố, tính theo giá hiện hành đạt 22.826 tỷ đồng (năm 1993), nếu qui đổi ra giá so sánh năm 1989 là 5.953 tỷ đồng, tương đương với 3,1 tỷ USD (quy đổi theo phương pháp tổng cục Thống kê), bình quân đầu người đạt 679 USD, gấp 2,5 lần so với mức bình quân chung của cả nước (236USD/người). Trong cơ cấu ngành kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh các ngành đóng góp vào GDP nhiều nhất, tập trung ở khu vực công nghiệp và dịch vụ, phù hợp với xu thế phát triển của những thành phố hiện đại trên thế giới. Khu vực I chiếm 30% GDP, Khu vực II chiếm 42,6% GDP [34].

Thành phố Hồ Chí Minh là đầu mối giao thông, bưu chính viễn thông lớn nhất Việt Nam: có thể liên lạc với các địa phương trong nước và nhiều nước trên thế giới. Đường thủy có cụm cảng Sài Gòn Nhà Bè tàu 20.000 tấn ra vào được với năng suất cảng hàng hóa trên 8 triệu tấn/năm – Cảng dầu có khả năng bơm rót 50.000 tấn/ngày. Đường sắt – bộ gồm: đường sắt Bắc Nam, các quốc lộ chính như Quốc lộ I Thành phố Hồ Chí Minh – Hà Nội, quốc lộ 13 Thành phố Hồ Chí Minh – Tây Nguyên – Lào; Quốc lộ 22 Thành phố Hồ Chí Minh – Campuchia. Đường hàng không với sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất nằm gần trung tâm thành phố và hiện nay có trên 20 đường bay quốc tế với trên 1 triệu hành khách/năm.

Về đào tạo Thành phố có 48 trường đại học, trung học chuyên nghiệp trên địa bàn với khảng 100.000 sinh viên của Thành phố và các tỉnh thuộc hệ đào tạo, hằng năm tốt nghiệp gần 15.000 – 20.000 [30].

1. Sự vận dụng CNTBNN ở Thành phố Hồ Chí Minh trước đại hội đảng toàn quốc lần thứ VI

Bối cảnh kinh tế của cả nước trước Đại hội toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI là sự tồn tại cơ chế đã lỗi thời chưa được thay đổi, một số thể chế quản lý mới còn chắp vá, không ăn khớp, thậm chí còn trái ngược nhau. Tình trạng tập trung quan liêu còn nặng, đồng thời những hiện tượng vô tổ chức, vô kỷ luật còn khá phổ biến. Đã có những biểu hiện nóng vội muốn loại bỏ ngay các thành phần kinh tế phi XHCN, nhanh chóng biến TBTN thành quốc doanh. Trong nhận thức cũng như trong hành động, chúng ta chưa thật sự thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta còn tồn tại trong một thời gian tương đối dài, chưa nắm vững và vận dụng đúng quy luật về sự phù hợp, giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng, bất ổn định thường xuyên, lạm phát phi mã, đời sống ngày một sa sút, tâm lý chán nản bộc lộ rõ nét trong cán bộ và nhân dân lao động ngày một gia tăng.

Trước tình thế đó, Thành phố đi đầu “xé rào” thể nghiệm sử dụng CNTBNN như một hình thức kinh tế quá độ để kết hợp cải tạo và xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật của CNXH.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Sài Gòn được giải phóng, giai cấp công nhân và nhân dân lao động đã nắm được quyền lực chính trị và sử dụng ngay chính quyền của mình để cải tạo xây dựng và tổ chức lại nền kinh tế thành phố theo yêu cầu từng bước tiến lên CNXH sau khi nước nhà đã được thống nhất. Thực hiện chủ trương quốc hữu hóa toàn diện qui mô lớn, một vũ khí cực kỳ quan trọng nhằm đánh đổ giai cấp tư sản về phương diện kinh tế làm cho thành phần kinh tế XHCN ngay từ khi mới ra đời có thể nắm được những tư liệu sản xuất chủ yếu và vị trí chỉ huy của nền kinh tế TBCN, chúng ta đã quốc hữu hóa 1071 doanh nghiệp công nghiệp. Bên cạnh đó, chúng ta còn quốc hữu hóa toàn bộ cơ sở vật chất kinh doanh phục vụ trực tiếp cho sự hoạt động của các doanh nghiệp đó thuộc khu vực sở hữu tư bản lớn, vừa và một phần sở hữu nhỏ của giai cấp tư sản sản xuất, đó là những doanh nghiệp công nghiệp quan trọng thuộc các ngành công nghiệp chủ chốt của nền công nghiệp thành phố và miền Nam với 3.987 hộ tư sản sản xuất. Những doanh nghiệp này có trang bị kỹ thuật và công nghệ sản xuất tương đối hiện đại và có năng lực sản xuất khá lớn, sử dụng một lực lượng lao động kỹ thuật và quản lý có trình độ chuyên môn cao bao gồm hàng trăm nghìn người. Toàn bộ cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động của những doanh nghiệp này đã được Nhà nước XHCN chuyển trực tiếp lên quốc doanh dựa trên cơ sở công hữu về tư liệu sản xuất do Nhà nước XHCN trực tiếp quản lý.

Chúng ta cũng đã quốc hữu hóa toàn bộ cơ sở vật chất kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại dịch vụ của tư sản mại bản, tư bản thương mại lớn bao gồm 11.044 hộ, các hộ kinh doanh thương nghiệp tư bản chủ nghĩa khác: 19.092 hộ. Đây là những lực lượng kinh tế kinh doanh quan trọng nhất giữ vị trí chi phối chỉ huy đối với toàn bộ nền kinh tế thương mại tư bản chủ nghĩa ở miền Nam. Toàn bộ cơ sở vật chất phục vụ cho kinh doanh đã được Nhà nước ta quản lý và chuyển thành sở hữu toàn dân trong các ngành ngân hàng, thương nghiệp và dịch vụ. Còn toàn bộ lực lượng tư sản trong khu vực này có lúc chúng ta chủ trương không sử dụng lại mà chuyển họ sang sản xuất [3].

Toàn bộ tài sản thế chấp vắng chủ, hàng hóa vật tư chủ yếu hệ thống kho tàng, bến bãi đã được Nhà nước ta tịch thu hoặc mua lại để phục vụ cho yêu cầu sản xuất kinh doanh của khu vực quốc doanh. Đã quốc hữu hóa hầu hết các cơ sở văn hóa, y tế, bệnh viện, nhà cho thuê chuyển sang sở hữu toàn dân do Nhà nước trực tiếp quản lý sử dụng. Tính đến cuối năm 1980, về mặt hình thức nền kinh tế chủ yếu thành phố đã căn bản được cải tạo và tổ chức lại nền sản xuất. Chúng ta đã nắm và trực tiếp quản lý 70% cơ sở sản xuất kinh doanh của tư bản với trên 80% tổng sản lượng của thành phố. Một bộ phận quan trọng nhất của giai cấp tư sản đã bị đánh đổ về mặt kinh tế, giai cấp tư sản nói chung đã bị thủ tiêu trên danh nghĩa, giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đã nắm độc quyền về ưu thế chính trị, về những lực lượng vật chất kỹ thuật chủ yếu của sản xuất kinh doanh trên địa bàn thành phố. Việc ra đời các thành phần kinh tế quốc doanh sau thắng lợi của cách mạng XHCN được xây dựng trên cơ sở chế độ công hữu tư liệu sản xuất bằng con đường quốc hữu hóa những cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc khu vực sở hữu tư bản chủ nghĩa, đã đảm bảo cho Nhà nước XHCN nắm được những tư liệu sản xuất quan trọng nhất, do đó ngay từ khi mới ra đời thành phần kinh tế quốc doanh đã chiếm lĩnh những vị trí then chốt của nền kinh tế quốc dân.

Công cuộc cải tạo và xây dựng XHCN sau ngày thống nhất nước nhà ở thành phố Hồ Chí Minh còn tiến hành dưới hình thức thành lập các công tư hợp doanh giữa Nhà nước và các nhà tư sản dân tộc và thành lập các hợp tác xã của các tiểu chủ, các hộ thủ công cá thể và các hộ tiểu thương. Thành phần Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước đã được hình thành dưới hai hình thức, công tư hợp doanh và chủ nghĩa tư bản hợp tác xã dựa trên cơ sở chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa tập thể của tư sản, tiểu tư sản và tiểu nghiệp chủ hoặc hình thức cổ phần chia lãi do Nhà nước XHCN kiểm soát. Tính đến cuối năm 1980 ở Thành phố đã có 150 doanh nghiệp công tư hợp doanh bao gồm 782 hộ tư sản và 5.146 hộ tiểu nghiệp chủ (hoạt động trong khu vực sản xuất công nghiệp và giao thông vận tải) 2.615 hợp tác xã dưới nhiều mức độ khác nhau, hợp tác xã tổ hợp sản xuất, dựa trên sở hữu tư bản tập thể của tư sản và tiểu nghiệp chủ có bóc lột lao động làm thuê trong những chừng mực nhất định, và một hệ thống hợp tác xã mua bán Phường kinh doanh trên cơ sở cổ phần của nhân dân có chia lãi dưới sự kiểm tra kiểm soát của hệ thống chính quyền cơ sở. Đây là thành phần kinh tế quá độ cần thiết có khả năng thu hút các nhà tư bản cá biệt, tiểu nghiệp chủ và nhân dân lao động vào quá trình phát triển và mở rộng sản xuất kinh doanh chống lại các thế lực tự phát và góp phần củng cố địa vị của kinh tế quốc doanh.

Tư bản tư nhân tính đến cuối 1981 toàn thành phố có 848 doanh nghiệp gồm 11.734 lao động hoạt động trong khu vực sản xuất công nghiệp. Trong thương nghiệp là số tư sản đã cải tạo hoạt động lại, số tư sản thương nghiệp mới, lực lượng trung thương, thương lái, đầu nậu… có một sức mạnh đáng kể nắm hầu hết các hàng nông sản từ các tỉnh về thành phố, mặt hàng nào cũng có những đầu nậu thao túng, hàng tiểu thủ công nghệ nhìn chung tư thương nắm nhiều (60%-70%0 trong đó số tư sản thương nghiệp người Hoa là bộ phận làm chủ thị trường tự do và giá cả thành phố. Số này buôn bán lâu đời nên có nhiều kinh nghiệm buôn bán, vốn lớn và có quan hệ với tư bản nước ngoài, nhiều người có uy tín làm ăn với tư bản ở thị trường quốc tế.

Sản xuất hàng hóa nhỏ dựa trên cơ sở sở hữu tư nhân và lao động cá nhân của gia đình, tính đến cuối năm 1981, toàn thành phố có 21.431 cơ sở sản xuất cá thể bao gồm 60.463 lao động trong khu vực tiểu thủ công nghiệp. Đối với khu vực sản xuất thủ công nghiệp, sự phân biệt giữa những người tiểu nghiệp chủ và tư bản tư nhân loại nhỏ hết sức linh hoạt và không rõ nét. Khu vực buôn bán nhỏ rất mênh mông, luôn biến động có chiều hướng phát triển; hoạt động ở chợ trời, lòng lề đường đến mức rất khó kiểm soát, quản lý [1+3].

Tình hình kinh tế cuối năm 1980 trên địa bàn thành phố

Thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa (đặc biệt là khu vực quốc doanh do Trung ương quản lý) sa sút một cách toàn diện nghiêm trọng, mất dần vị trí chủ đạo đối với các thành phần kinh tế khác. Điều này thể hiện đặc biệt rõ trong việc giảm sút về tỷ trọng giá trị công nghiệp trung ương trong cơ cấu công nghiệp chung của thành phố: từ 70,3% năm 1976 giảm xuống còn 36,5% năm 1980, hàng loạt doanh nghiệp quốc doanh có nguy cơ đóng cửa vì thiếu những điều kiện để sản xuất mà chủ yếu là nguyên liệu và phụ tùng. Chỉ tính trong năm 1980 – 2,5 vạn công nhân quốc doanh trung ương và 3.000 công nhân quốc doanh của thành phố bỏ doanh nghiệp ra làm ngoài. Năng suất lao động của khu vực quốc doanh trung ương chỉ bằng 1/2 năm 1976, còn quốc doanh thuộc thành phố nhích lên không đáng kể.

Cũng trong thời gian đó tỷ trọng sản lượng khu vực tiểu thủ công nghiệp (sản xuất dưới hình thức tư bản nhà nước hoặc cá thể) tăng lên rất nhanh từ 22,5% năm 1976 lên 48,5 năm 1980 trong cơ cấu tổng giá trị công nghiệp. riêng khu vực tiểu thủ công nghiệp thì khu vực tư nhân cá thể chiếm 57% trong cơ cấu chung. Năng suất lao động của khu vực tiểu thủ công nghiệp tăng gấp 5 lần so với năm 1976. Năm 1981, số cơ sở tăng lên 8.000 cơ sở và số doanh nghiệp công nghiệp tư nhân tập trung hoạt động trong 7 ngành chủ yếu: cơ khí – 337 doanh nghiệp; chế biến lương thực, thực phẩm – 160 doanh nghiệp; vật liệu xây dựng – 135 doanh nghiệp, hóa chất nhựa – 103 doanh nghiệp, dệt da, may – 51 doanh nghiệp, văn hóa phẩm – 35 doanh nghiệp và hàng tiêu dùng linh tinh khác – 27 doanh nghiệp. Có những doanh nghiệp qui mô tương đối lớn với hàng trăm công nhân cũng có những doanh nghiệp nhỏ nhưng chất lượng thiết bị và năng lực sản xuất rất cao, có người quản lý tới 10 doanh nghiệp… Sự tồn tại phát triển mạnh mẽ của khu vực tiểu thủ công nghiệp chứng tỏ họ còn đủ các điều kiện kinh tế kỹ thuật để hoạt động và có đủ sức để phát triển rất mạnh.

Giá cả tăng vọt chưa từng có. Đời sống công nhân viên Nhà nước chỉ đảm bảo không quá 1/3 nhu cầu hàng ngày, còn lại là thị trường tự do chi phối. Hàng trong tay nhà nước không ít, nhưng do tổ chức quản lý chưa tốt để hư hỏng nhiều và vẫn còn hiện tượng móc ngoặc tuồn hàng ra thị trường tự do. Ngoài ra, hàng tự sản tự tiêu, nhà nước mới nắm được khoảng 40%-50%. Tiền mặt trong tay tư thương rất lớn, tiền trong tay nhà nước nhiều lúc khó khăn, dù đã lạm phát lớn, ngày càng bị mất giá.

Điều đó đã trực tiếp tác động không tốt hàng ngày hàng giờ đến cuộc sống nhân dân và cán bộ Đảng viên [1+3].

Qua thực tiễn tình hình nói trên chứng minh sự tồn tại 5 thành phần kinh tế tại thành phố Hồ Chí minh vừa qua và trong giai đoạn này là một thực tế khách quan là một tất yếu lịch sử. Nhưng sự tồn tại đó vừa có tính tự giác, vừa mang tính tự phát.

Tình hình trên bắt nguồn từ một số nguyên nhân chủ yếu sau đây:

Một là, trong quá trình cải tạo nền kinh tế thương mại tư bản chủ nghĩa của Sài Gòn, hoạt động của chúng ta mới hướng chủ yếu vào biện pháp quốc hữu hóa và xã hội hóa hình thức, quốc doanh hóa và tập thể hóa nền sản xuất. Nội dung chủ yếu nhất của cải tạo là thực hiện xã hội hóa trên thực tế, tập trung mọi cố gắng tìm ra những hình thức tổ chức phù hợp nhất, những mắt xích trung gian để nắm lại cơ cấu kinh tế cũ, nhằm tiếp tục phát triển lực lượng sản xuất tạo điều kiện cho việc xây dựng và chuyển dần nền kinh tế thành phố sang hoạt động dựa trên cơ sở cơ cấu kinh tế mới, chưa chú ý thực hiện. Do đó cơ cấu kinh tế cũ đã bị phá nát nhưng cơ cấu kinh tế mới thì chưa được xác lập, cho nên toàn bộ khu vực kinh tế quốc doanh thiếu cơ sở để tồn tại hoạt động một cách vững chắc. Trong khi đó các khu vực kinh tế chưa bị quốc doanh hóa đã dần dần khôi phục, dần dần nắm lại các mối liên hệ kinh tế vốn có của thành phố với thị trường trong nước: Họ có tiền, có tư liệu sản xuất, có lao động kỹ thuật cao, có thị trường, do đó sản xuất kinh doanh của khu vực này đủ điều kiện để tái sản sinh.

Hai là, về nhận thức tư tưởng, chúng ta đối lập một cách máy móc chủ nghĩa tư bản với chủ nghĩa xã hội. Do đó trong hoạt động thực tiễn, chúng ta không tạo điều kiện để có thể sử dụng tốt nhất các nhà tư bản cá biệt có trình độ nghiệp vụ cao vào công cuộc phát triển các ngành kinh tế kỹ thuật và giúp chúng ta nắm lại các mối liên hệ kinh tế cũ phục vụ cho yêu cầu xây dựng và phát triển sản xuất kinh doanh của thành phố lên chủ nghĩa xã hội. Hậu quả là lực lượng lao động chuyên môn giỏi tinh hoa của nền sản xuất thương mại tư bản chủ nghĩa đã không được huy động đúng mức vào công cuộc xây dựng kinh tế.

Ba là, tiềm năng vật chất (vốn, vật tư kỹ thuật) tiềm tàng trong lòng thành phố còn hết sức lớn. Chúng ta chưa tìm cách khai thác triệt để lực lượng vật chất quan trọng này để mở rộng sản xuất kinh doanh. Trong khi đó tiềm năng này lại bị khu vực sản xuất tư bản chủ nghĩa tìm mọi cách thu hút để mở rộng sản xuất kinh doanh đầu cơ thao túng thị trường chống lại chủ nghĩa xã hội.

Bốn là, trong quá trình cải tạo, việc phân cấp quản lý những cơ sở sản xuất kinh doanh đã được quốc hữu hóa trên địa bàn thành phố đã không coi trọng sự phát triển lịch sử đặc thù của nền sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa, không đảm bảo giữ mối liên hệ thống nhất trong cơ cấu ngành, liên ngành và trong toàn bộ nền kinh tế của thành phố gắn bó hữu cơ với kinh tế của các tỉnh miền Nam và thị trường trong nước, mà chúng ta đã phân nhỏ, cắt rời quá trình sản xuất kinh doanh và phân chia trên cơ sở: Trung ương nắm những cơ sở sản xuất kinh doanh lớn, cấp thành phố loại vừa và cấp quận huyện loại nhỏ. Do đó những doanh nghiệp lớn đã bị cô lập suy yếu đi rất nhiều do thiếu những điều kiện để cân đối.

Năm là, về phương pháp quản lý, chúng ta áp đặt một chế độ quản lý chưa phù hợp với nền kinh tế đặc thù của thành phố, cô lập thành phố với các tỉnh phía Nam, cắt rời sản xuất với kinh doanh, cắt rời thị trường xã hội chủ nghĩa với thị trường tự do… hệ thống quản lý đó trên thực tế đã trói buộc khả năng hoạt động của kinh tế xã hội chủ nghĩa đối với các khu vực sản xuất khác và với thị trường, do đó đã tạo điều kiện kinh tế tư bản phục hồi nhanh, chống lại kinh tế XHCN từ mọi phía (tiền, hàng, giá…).

Phải thừa nhận rằng, ngay từ khi miền Nam mới giải phóng Đảng ta có chú ý đến CNTBNN. Nhưng trong lúc này, về nhận thức, chỉ coi nó là một trong những hình thức kinh tế thông thường như gia công, đặt hàng, đấu thầu, tổ chức nhóm sản phẩm… Nghị quyết Bộ Chính trị số 254/NQ-TW ngày 15/7/1976 đã nêu rõ: “Ngoài những cơ sở quan trọng lần lượt được cải tạo bằng con đường công tư hợp doanh, từng ngành kinh tế quốc doanh phải thu hút các cơ sở tư doanh vào quỹ đạo quản lý của mình bằng các hình thức TBNN như gia công, đặt hàng, đấu thầu, quy tụ vào các nhóm sản phẩm do cơ sở quốc doanh làm hạt nhân”. Đồng thời, “chính sách và bước đi cụ thể trong việc cải tạo công thương nghiệp TN tư doanh được xác định theo từng ngành, kết hợp giữa lực lượng quốc doanh, công tư hợp doanh, các hình thức TBNN khác, các tổ chức tiểu thủ công nghiệp, thủ công nghiệp để phát triển sản xuất trong khuôn khổ của kế hoạch kinh tế chung. Các ngành cần tìm ra và xác định những hình thức TBNN thích hợp với ngành mình” [23].

Tất nhiên, sự hạn chế trong nhận thức dẫn đến sự hạn chế trong hành động coi công tư hợp doanh như là quốc doanh, nặng về xóa bỏ hơn là xây dựng. Vì vậy về thực chất là không thực hiện đúng nguyên lý học thuyết Lênin về CNTBNN dẫn đến hậu quả là đưa đất nước vào những cơn khủng hoảng kinh tế xã hội hết sức nghiêm trọng.

Sau khi phân tích tình hình 5 năm (1976-1980), Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ 2 (1980) đã đưa ra chủ trương: Trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần của thời kỳ quá độ, nội dung của việc sử dụng đúng đắn các thành phần kinh tế thể hiện ở 3 nhiệm vụ quan trọng nhất sau đây:

Một là, phải xây dựng một hệ thống chính sách kinh tế phù hợp với lợi ích của các thành phần kinh tế khác nhau, tức là phù hợp với bản chất xã hội của chúng, thể hiện được đầy đủ nhất những nội dung khách quan của các quy luật kinh tế hoạt động trong điều kiện kinh tế cụ thể của nền kinh tế trong thời kỳ quá độ.

Hai là, phải tìm ra được những hình thức tổ chức kinh tế có hiệu quả nhất phù hợp với tính chất quá độ của các quan hệ kinh tế trong nước, quan hệ tác động qua lại giữa các thành phần kinh tế, hình thức này phải đảm bảo được vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế quốc doanh.

Ba là, phải kết hợp đúng đắn việc cảo tạo xã hội chủ nghĩa với xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa là kết hợp một cách tối ưu xã hội hóa hình thức và xã hội hóa thực tế [26].

Việc tạo một nền đại công nghiệp có khả năng cải tạo nông nghiệp trong một cơ cấu sản xuất kỹ thuật thống nhất và việc hình thành những con người mới sản phẩm của cốt vật chất đó là cả một giai đoạn lịch sử dài vài chục năm hoặc có thể lâu hơn nữa. Vì vậy, để có thể sử dụng đúng đắn các thành phần kinh tế tất yếu phải trải qua những bước quá độ, những hình thức trung gian liên hợp phù hợp với lợi ích xã hội của các thành phần kinh tế đặc thù của thời kỳ quá độ, tạo điều kiện thuận lợi cho bước chuyển hóa từ sản xuất nhỏ lên CNXH, phương pháp con đường chắc chắn nhất để thực hiện bước chuyển đó là CNTBNN.

Mục đích sử dụng hình thức CNTBNN của thành phố nhằm:

– Làm công cụ chiến thắng tính tản mạn vô chính phủ, vô tổ chức của nền sản xuất nhỏ. Đẩy lùi tiến đến xóa bỏ cơ chế hành chính quan liêu bao cấp.

– Tận dụng tiềm năng kinh tế do CNTB để lại và thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, tranh thủ trang bị kỹ thuật hiện đại tạo điều kiện thực hiện công nghiệp hóa XHCN.

– Đảm bảo sản xuất và đời sống nhân dân.

– Đưa toàn bộ nền sản xuất hàng hóa nhỏ, tư bản tư nhân đi vào quỹ đạo XHCN, từng bước xác lập vị trí thống trị của nền kinh tế XHCN trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế.

Thời kỳ này, Thành phố đã sử dụng những hình thức CNTBNN dưới nhiều dạng khác nhau:

– Trong sản xuất: doanh nghiệp công tư hợp doanh, doanh nghiệp hợp tác, doanh nghiệp tư nhân dưới sự quản lý Nhà nước.

– Trong ngoại thương các công ty công tư hợp doanh xuất nhập khẩu.

– Trong thương nghiệp tổ chức hợp tác kinh doanh với tư thương.

– Tổ chức các công ty cổ phần huy động vốn kinh doanh trong nước và xuất nhập khẩu.

Tuy nhiên, trong khi thực hiện, do quan niệm còn mang nặng tính chất giản đơn,máy móc, cho nên hình thức công tư hợp doanh, hình thức cao nhất của CNTBNN đã không được thành công. Bởi vậy, Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ 2 đã nhận xét: ” Đối với công tư hợp doanh thì làm không đúng chính sách, thực chất là Quốc doanh… Trong chỉ đạo chưa coi trọng việc vận dụng các chính sách, cụ thể đối với các thành phần tư sản” [26].

Hầu hết các công ty công tư hợp doanh đều đã không duy trì được khả năng quản lý và sản xuất cũ của nó. Do quan niệm là mua lại trả dần nên không ngành nào vận dụng tốt chính sách để sử dụng khả năng chủ cũ, đồng thời không phát huy được quyền làm chủ tập thể của công nhân trong các doanh nghiệp. Việc duyệt vốn hợp doanh vốn của chủ cũ, trả dần theo tỷ lệ qui định hàng năm cũng chưa thực hiện sòng phẳng. Đã hạ thấp vốn tài sản cố định, ép giá trong việc xác nhận vốn, chuộc lại tài sản trả dần cho chủ nhân trong 12 năm 6 tháng dưới hình thức trả lãi cố định 8% năm, nhập cục với việc trả vốn cố định. Nhà nước trả lãi hàng năm qua tài khoản ở ngân hàng, trong khi qui định ngân hàng chỉ cho gia đình tư sản 50 đồng/người/tháng, chỉ trừ trường hợp đặc biệt. Ngoài ra, việc xếp thang bậc lương của công nhân trong doanh nghiệp công tư hợp doanh giống như trong doanh nghiệp quốc doanh, chế độ quản lý các công tư hợp doanh cũng như chế độ quốc doanh (quản lý theo chế độ hành chính bao cấp).

Về tổ chức: người của Nhà nước làm giám đốc, của tư sản làm phó giám đốc nhưng không có quyền hạn gì chỉ “ngồi chơi xơi nước”. Từ đó dẫn đến hậu quả: Tư sản bỏ đi nước ngoài rất nhiều: có 120/195 tư sản bỏ đi (số tư sản tham gia công tư hợp doanh); Công nhân bỏ việc có tháng lên đến 600 – 700 người, đáng kể là số công nhân kỹ thuật có tay nghề cao bỏ việc ra nước ngoài kiếm sống. Sản lượng, chất lượng sản xuất sa sút ghê gớm. Đó là hậu quả của việc sử dụng không đúng đắn hình thức CNTBNN, đòi hỏi phải nhanh chóng sửa lại cho phù hợp với tình hình thực tế và đúng theo nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin.

Từ đó, Đại hội II của Đảng bộ Thành phố chủ trương: “Có chính sách sử dụng thỏa đáng lực lượng tại chỗ trước đây có mối quan hệ chặt chẽ và có tín nhiệm với thị trường tư bản chủ nghĩa, có kinh nghiệm tổ chức sản xuất và kinh doanh xuất nhập khẩu” [26]. Giữa năm 1980 và nhất là năm 1981 thành phố đã tổ chức nhiều công ty xuất nhập khẩu cấp thành và một số Quận, bước đầu có phát huy tác dụng, bước đầu đem lại nguồn ngoại tệ khá cho thành phố. Trong đó, riêng công ty xuất nhập khẩu trực dụng công nghiệp (Direximco) từ 05/1980 đến tháng 02/1981 đã thực hiện tổng doanh số xuất khẩu là 23.563.000 đô la trong đó gồm 10.987.000 đô la là hàng xuất, 12.575.352 đô la hàng nhập (xem bảng 1).

Đáp ứng được một phần quan trọng việc giải quyết được vật tư nguyên liệu cho sản xuất tận dụng công suất thiết bị góp phần phục hồi và phát triển sản xuất. Đồng thời, góp phần đáp ứng yêu cầu tiêu dùng của nhân dân lao động, tăng cường năng lực huy động hàng xuất khẩu, giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống nhân dân. Riêng Công ty XNK Cholimex quận 5 chỉ hơn 9 tháng đã nhận hơn 1.250 tấn nguyên liệu vật liệu phục vụ cho sản xuất xây dựng. Đảm bảo cho 42 cơ sở sản xuất được hoạt động ổn định, đã tạo ra khoảng 5.942 lao động có công ăn việc làm thu nhập hợp lý.

Bảng 1: Kim ngạch xuất khẩu của thành phố 2 năm
(1980 – 1981)

Nguồn: Sở thương nghiệp thành phố Hồ Chí Minh

Thành quả năm 1981 của thành phố trong đó có sự đóng góp của việc sử dụng các hình thức TBNN là rất quan trọng: sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp tiểu công nghiệp tiếp tục phát triển và vượt kế hoạch từ 1 tỷ 7 của năm 1980 tăng lên 2 tỷ 9 năm 1981 về giá trị tổng sản lượng. Trong đó sản xuất tiểu thủ công nghiệp chiếm 2/3 tổng giá trị sản lượng thành phố. Lực lượng thương nghiệp XHCN mở rộng kinh doanh, doanh số mua vào tăng trên 4 lần so với năm 1980, chi phối 50% thị trường, lực lượng hàng hóa nhiều hơn, nên việc cung cấp các mặt hàng theo tiêu chuẩn định lượng ổn định hơn. Xuất khẩu địa phương tăng 20 lần, nhập khẩu tăng 3 lần so với năm trước, bước đầu huy động được các ngành Quận huyện tham gia xuất khẩu, huy động được vốn trong dân, mở rộng được nguồn thu ngân sách, thu tiền mặt đều vượt kế hoạch. Từng ngành, từng quận, huyện, phường xã, đơn vị kinh tế cơ sở đều có những chuyển biến mới về cung cách sản xuất kinh doanh, bước đầu trở thành phong trào rộng khắp trong thành phố, tạo cơ sở tốt cho việc thực hiện thắng lợi kế hoạch năm 1982 và những năm tiếp theo đó.

Những kết luận bước đầu có thể rút ra được trong việc vận dụng CNTBNN ở thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn này là:

a. Việc sử dụng hình thức TBNN tại thành phố Hồ Chí Minh mới bước đầu thể nghiệm ở một số ngành, tuy còn nhiều mặt hạn chế, nhưng về cơ bản là đúng hướng, phù hợp tình hình thực tế khách quan ở thành phố Hồ Chí Minh. Sử dụng hình thức CNTBNN là một trong những biện pháp kinh tế vô cùng quan trọng để sử dụng triệt để ac1c nhà tư sản và các thành phần kinh tế phi XHCN, xây dựng một cơ chế kinh tế phù hợp thay cơ chế kinh tế cũ có mặt đã lỗi thời, làm tiền đề để làm bước trung gian cho việc xây dựng cơ chế kinh tế XHCN tương lai.

b. Song song với việc nhân lên điển hình của doanh nghiệp công tư hợp doanh “lời cùng ăn, lỗ cùng chịu” dưới dạng công ty cổ phần. Các cơ sở sản xuất công tư hợp doanh là doanh nghiệp vừa và nhỏ, có hiện tượng đóng cửa hoặc làm ăn thua lỗ do trình độ quản lý yếu kém, thiếu vốn, thiếu nguyên vật liệu phụ tùng nên chuyển sang một hình thức khác của CNTBNN như cho tư sản thuê doanh nghiệp.

c. Đối với việc sử dụng tư sản thương nghiệp: Muốn làm chủ thị trường phải quản lý và sử dụng được tư sản thương nghiệp trung ương và tiểu thương, không nên đặt họ là đối tượng đối lập như ta đã làm mà không thành công. Ta vừa thẳng tay nghiêm trị nạn đầu cơ, buôn lậu, đánh thuế thật nặng đối với những phần tử làm ăn không gắn với pháp luật nhà nước, đồng thời lôi cuốn tư sản thương nghiệp, tư thương bằng cơ chế tổ chức, bằng chính sách bằng phương thức quản lý thích hợp, như tổ chức hợp tác kinh doanh, tổ chức đại lý, mà thành phố có thể nghiệm bước đầu có kết quả cụ thể.

d. Đối với ngoại thương: Muốn có nguyên liệu phụ tùng để phục vụ sản xuất một mặt phải tận dụng nguyên liệu trong nước như doanh nghiệp dệt 13 đã làm tích cực chế tạo phụ tùng thay thế. Điều quan trọng là phải giải quyết bằng con đường xuất nhập khẩu với các nước tư bản, trong đó thành phố có nhiều khả năng thông qua việc sử dụng tư bản Việt hay Hoa trong công tác xuất nhập khẩu.

e. Đối với ngân hàng, tín dụng: Tận dụng huy động vốn trong dân nhưng có qui định lãi suất hợp lý. Đồng thời phải sửa lại cách quản lý kinh doanh lỗi thời của ngân hàng để phục vụ kịp thời cho hoạt động sản xuất và xuất nhập khẩu. Có thể mở rộng ra nhiều hình thức tín dụng để huy động vốn trong nhân dân nhiều hơn. Đó là sử dụng hình thức CNTBNN trong ngành ngân hàng.

Nhìn chung, việc vận dụng CNTBNN trong thời kỳ này vẫn còn ở phạm vi thể nghiệm ở một số hình thức CNTBNN và ở một số ngành. Trong khi cơ chế hành chính quan liêu bao cấp vẫn còn nặng nề trì kéo làm cho việc chuyển sang cơ chế mới chậm chạp và còn nhiều bất trắc. Nhưng dù sao những kinh nghiệm mà thành phố Hồ Chí Minh gặt hái được qua việc vận dụng CNTBNN bước đầu có giá trị thực tiễn và lý luận đóng góp vào đường lối chung cho các giai đoạn sau nhất là Nghị quyết đại hội VI và Đại hội VII toàn quốc của Đảng mở ra thời kỳ đổi mới, mở cửa nền KTXH của đất nước và thành phố.

2. Sự phát triển của CNTBNN ở thành phố Hồ Chí Minh từ sau đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng đến nay

Những đổi mới quan trọng về đường lối chiến lược ở quy mô quốc gia từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, với những nội dung chủ yếu là:

– Chuyển từ nền sản xuất tự túc tự cấp là chủ yếu sang nền kinh tế sản xuất hàng hóa. Sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hóa – tiền tệ, gắn sản xuất với thị trường.

– Chuyển từ nền kinh tế khép kín sang nền kinh tế mở.

– Chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý mô của Nhà nước theo định hướng XHCN.

– Phát triển kinh tế tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức, với phương châm: “Khuyến khích tư nhân đầu tư, kinh doanh trong những ngành nghề lĩnh vực có lợi cho quốc kế dân sinh, đồng thời đảm bảo sự kiểm soát và điều tiết của Nhà nước hướng tư bản tư nhân từng bước đi vào kinh tế hợp tác xã và kinh tế TBNN dưới nhiều hình thức nhằm phát triển sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả kinh tế” [24]

Điều đó đã tạo điều kiện thúc đẩy công cuộc đổi mới chính sách phát triển kinh tế và CNTBNN ở thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1986-1995 lên một bước cao hơn.

Chủ trương của Đảng bộ và chính quyền thành phố đối với việc phát triển CNTBNN trên địa bàn thành phố

Khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, đồng thời sắp xếp, củng cố kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, thực hiện quản lý theo định hướng XHCN. Bảo đảm vai trò chủ dạo của kinh tế kinh doanh theo hướng lấy hiệu quả (tính trên phạm vi toàn xã hội) làm biện pháp chủ yếu. Xác định rõ những ngành và lĩnh vực nhà nước cần quản lý trực tiếp, các hoạt động cần thiết cho xã hội mà thành phần kinh tế khác không có điều kiện hoặc không muốn kinh doanh để tập trung vốn đầu .

Nghiên cứu vận dụng các chính sách, để xây dựng kinh tế tư bản nhà nước với quy mô và tốc độ phát triển nhanh: phát huy các hình thức hợp tác, liên doanh, liên kết giữa nhà nước với các thành phần kinh tế khác. Cổ phần hóa một số doanh nghiệp quốc doanh theo luật doanh nghiệp và luật công ty. Thành lập các tập đoàn sản xuất, kinh doanh lớn do quốc doanh chi phối để tạo sức mạnh mới, phát triển nhanh lực lượng sản xuất.

Tổ chức lại và tạo điều kiện cho kinh tế tập thể phát triển theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, bình đẳng trên cơ sở tổng kết thực tiễn, với những hình thức và quy mô thích hợp, làm ăn có hiệu quả thiết thực. Khuyến khích các hình thức hợp tác cung ứng dịch vụ, hợp tác từng phần trong sản xuất nông nghiệp, tổng kết và nhân rộng kinh nghiệm các hợp tác xã công, nông nghiệp, hợp tác xã mua bán, tín dụng làm ăn có hiệu quả. Khuyến khích kinh tế cá thể, tư bản tư nhân phát triển đúng luật pháp, hỗ trợ và tạo điều kiện cho kinh tế hộ gia đình phát triển.

Sớm hình thành các công ty, doanh nghiệp, các hiệp hội, tập đoàn sản xuất kinh doanh theo ngành hoặc nhóm sản xuất có mạng lưới trên cả nước hoặc trong từng khu vực, có sự hợp tác, liên kết kinh tế với nước ngoài. Xác định các quy định cần thiết cho việc chuyển hình thức sở hữu, cho thuê hoặc giải thể các đơn vị kinh tế quốc doanh làm ăn thua lỗ kéo dài (có tính đến việc giải quyết các hậu quả về xã hội); giảm các thủ tục rườm rà gây phiền hà, trở ngại cho việc đầu tư và phát triển của các thành phần kinh tế, nhưng phải xác định đầy đủ các điều kiện cần có và chặt chẽ trong kiểm tra, kiên quyết xử lý những hiện tượng tiêu cực” [65].

Các hình thức CNTBNN được chú ý phát triển ở thành phồ Hồ Chí Minh là

Hình thức liên doanh: Hợp tác thu hút vốn đầu tư nước ngoài; Tô nhượng – thành lập Khu chế xuất khu công nghiệp, Khu công nghệ cao; Cổ phần hóa – công tư hợp doanh; Hợp tác xã; Đầu tư 100% vốn nước ngoài;
Tư nhân bỏ vốn ra sản xuất kinh doanh; Cho tư bản
thuê doanh nghiệp, nhà xưởng v.v…; tổ chức gia công v.v…

Sự áp dụng CNTBNN giai đoạn này nổi bật nhất là thực hành các biện pháp thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương đi đầu và thu được nhiều thành công nhất so với các địa phương khác trong cả nước về lĩnh vực này. Bởi vậy, trước tiên chúng ta đi vào khảo sát thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở thành phố Hồ Chí Minh dưới nhiều hình thức, sau đó lần lượt bàn đến những lĩnh vực khác.

a. Về tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại thành phố Hồ Chí Minh

Đến tháng 5/1995 tại thành phố Hồ Chí Minh có 409 dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép hoạt động có hiệu lực với tổng số vốn đăng ký đầu tư 5.013.076.911 USD (với 29 nước). Phía nước ngoài góp 76,8% phía Việt Nam 23,2% (1994). Qua tiến độ cấp phép cho thấy nước ngoài vào thành phố mỗi ngày một tăng, quy mô vốn đầu tư ngày càng lớn. Riêng năm 1994 có gần 100 dự án được cấp phép với tổng vốn đầu tư 1,1 tỷ USD, 3 tháng đầu năm 1995, có 23 dự án đầu tư được cấp phép với tổng vốn đầu tư trên 785 triệu USD, tập trung chủ yếu vào lĩnh vực xây dựng hạ tầng cơ sở, công nghiệp, khu thương mại, khách sạn, cao ốc, làm nhà ở và văn phòng cho thuê.

Về quy mô vốn của các dự án đầu tư

Các dự án đầu tư phần lớn là loại vừa và nhỏ, vốn đầu tư bình quân của các dự án là 9,78 triệu USD (vốn pháp định 5,5 triệu USD). Gần đây, phát triển nhanh các dự án lớn, có dự án đầu tư trên 200 triệu USD nên bình quân vốn của các dự án quý I/95 là: 15,3 triệu USD gấp 4 lần so với năm 1988, bằng 2 lần so với năm 1991 và năm 1992. Đến nay thành phố có 30 dự án với số vốn trên 20 triệu USD chiếm 1/3 số dự án lớn của cả nước (xem bảng 2).

Bảng 2: Quy mô vốn của các dự án đầu tư qua các năm

(Nguồn: Ủy ban hợp tác đầu tư và Cục thống kê thành phố).

Về thời hạn đầu tư của các dự án

Phần lớn các dự án đầu tư vào thành phố có thời hạn 10-20 năm (trung hạn) chiếm 78%, loại trên 20 năm: 12,3%, loại ngắn hạn xấp xỉ 10%. Trong những năm gần đây các dự án dài hạn tăng nhanh, các dự án ngắn hạn có xu hướng không tăng (Xem bảng 3)

* Về hình thức đầu tư:

Các đối tác nước ngoài đầu tư vào thành phố chủ yếu vẫn là hình thức liên doanh (chiếm 73% số dự án và 69,4% so với vốn đầu tư). Trước năm 1992, tỷ lệ đầu tư theo hình thức liên doanh là 80%. Từ năm 1992 đến nay tỷ trọng dự án đầu tư theo hình thức này giảm dần xuống chiếm 73% (1992), 65% (1993) và 54% (1994). Xét theo các lĩnh vực và khu vực đầu tư thì hình thức liên doanh trong thương nghiệp là 88%, khách sạn nhà hàng là 87%, công nghiệp chế biến là 69%… Các dự án có thời hạn hoạt động trên 20 năm cũng chủ yếu bằng hình thức liên doanh chiếm 81,6%, từ 10-20 năm chiếm 75%. Dự án liên doanh dưới 10 năm chiếm 53%. Các dự án nhỏ quy mô chỉ dưới 1 triệu USD với hình thức liên doanh chiếm 68%.

Bảng 3: Quy mô vốn của các dự án theo thời gian hoạt động

(Nguồn: Ủy ban hợp tác đầu tư và Cục thống kê thành phố).

Các dự án đầu tư theo hình thức 100% vốn nước ngoài đã có từ năm 1988 đến nay có 62 dự án, chiếm 20% trong tổng số dự án được cấp phép, với tổng số vốn 657,5 triệu USD, tập trung chủ yếu ở 2 ngành: công nghiệp có 52 dự án, tài chính tín dụng có 5 dự án. Cơ sở thuộc thành phố quản lý có 55 dự án chiếm 88,7%. Dự án có vốn đầu tư từ 1-10 triệu USD chiếm 55%. Vốn đầu tư bình quân 1 dự án là 10,6 triệu USD, cao hơn hình thức liên doanh.

Hình thức hợp tác kinh doanh, đến nay có 20 dự án với vốn 266,9 triệu USD. 60% thuộc loại ngắn hạn (dưới 10 năm), không có dự án trên 20 năm. Quy mô vốn của các dự án hợp tác kinh doanh chủ yếu là loại vừa và nhỏ dưới 10 triệu USD, chiếm tới 80%.

Về cơ cấu ngành nghề

Cho đến nay ở thành phố đã có 14 ngành kinh tế quốc dân có dự án đầu tư, trong đó ngành có nhiều cơ sở công nghiệp chế biến có: 181 dự án với số vốn lớn nhất 1.045,8 triệu USD, còn các ngành khai thác mỏ, ngành giáo dục đào tạo và đoàn thể hiệp hội chỉ có 1 dự án và có vốn đầu tư 163 ngàn USD. Dự án đầu tư nước ngoài vào khu vực sản xuất có 217 dự án, chiếm 70,2%, khu vực dịch vụ 92 dự án chiếm 29,8% [44+49].

Trong những năm vừa qua, thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ vị trí hàng đầu trong các địa phương về thu hút đầu tư nước ngoài, chiếm tỷ lệ 30% số dự án và tổng số vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Nhiều dự án lớn hoặc dự án xác định vị trí ở khu vực trung tâm thành phố được xét duyệt theo phương thức tuyển chọn. Dự kiến trong năm 1995 có khoảng 150 dự án được phê duyệt đầu tư tại thành phố với tổng vốn đầu tư khoảng 2 tỷ USD, tăng gấp 2 lần năm 1994. Có thể thấy rõ hơn tình hình thu hút đầu tư qua số liệu bảng 4:

Bảng 4: Tình hình thu hút vốn đầu tư (tính đến tháng 3 năm 1995)

Nguồn: Ủy ban hợp tác đầu tư và Cục thống kê thành phố

Những mặt còn tồn tại

Bên cạnh những thành quả, vấn đề thu hút đầu tư thành phố bộc lộ khuyết điểm nổi bật. Tuy thành phố là nơi đi đầu trong việc cải tiến thủ tục hành chánh, nhất là thủ tục xin phép đầu tư, nhưng tình trạng phải qua nhiều công đoạn, mỗi công đoạn phải tốn nhiều tháng, thậm chí cả năm, trong đó nổi lên vấn đề thủ tục đầu tư quá rườm rà, chậm chạp, ảnh hưởng bất lợi cho môi trường đầu tư và công tác vận động thu hút đầu tư. Có nhiều nguyên nhân, nhưng những nguyên nhân nổi bật là:

– Công tác quy hoạch xây dựng kinh tế thành phố mới hoàn thành trên tổng thể, chưa có quy hoạch chi tiết cụ thể từng ngành, từng địa bàn.

– Có nhiều cơ quan can thiệp vào quá trình lập hồ sơ dự án xin phép đầu tư (trước đây 11 cơ quan, hiện nay có rút bớt phần nào).

– Cán bộ Việt Nam hợp tác với nước ngoài không nắm vững luật pháp, chính sách nhà nước, thiếu chuẩn bị tốt trong đàm phán và có khi hữu khuynh thỏa thuận với nhà đầu tư trái với luật pháp Việt Nam.

– Nhiều thủ tục bất hợp lý, các văn bản pháp lý không nhất quán chồng chéo nhau.

Quản lý Nhà nước về đầu tư nước ngoài chưa được phân định rạch ròi giữa các ngành Trung ương và địa phương, còn nhiều hở v.v…

– Công tác dịch vụ đầu tư quá phân tán, chất lượng kém, ảnh hưởng tới chất lượng dự án, buộc phải bổ sung điều chỉnh nhiều lần kéo dài thời gian thẩm định dự án.

– Cán bộ đối tác của ta ít quan tâm đến công tác xây dựng Đảng và đoàn thể, có tâm lý sợ khi xây dựng Đảng và đoàn thể, sẽ làm các nhà đầu tư nước ngoài không hài lòng.

– Trong liên doanh, bên Việt Nam vì thiếu vốn tài chính (chủ yếu góp bằng đất đai – nhà xưởng – chiếm khoảng 33%) và thiếu năng lực (năng lực điều hành, quản trị, kể cả ý thức trách nhiệm). Cho nên bên Việt Nam vừa bị thiệt thòi về quyền lợi vừa mất quyền kiểm soát, chi phối trong một số công ty liên doanh.

Về phía các nhà đầu . Bên cạnh số nhà đầu tư chấp hành tốt luật pháp nhà nước, một số nơi có hiện tượng:

+ Đầu tư chui.

+ Chèn ép hà khắc công nhân Việt Nam

+ Mua bán bất động sản trái phép.

+ Trốn thuế, ép giá gia công, tăng giá đầu tư thiết bị trong liên doanh vô tội vạ làm cho phía đối tác Việt Nam luôn bị thua thiệt trong nhiều hợp đồng thường ký “hớ” làm tổn hại quyền lợi quốc gia [44].

b. Về hình thức tô nhượng

Thực chất của hình thức này được áp dụng ở Việt Nam nói chung và ở thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, hiện nay chủ yếu là thành lập các Khu chế xuất. Khu chế xuất là một loại hình tổng hợp các hình thức CNTBNN, nhưng ở đây đa phần là thu hút các xí nghiệp đầu tư 100% vốn nước ngoài, thời hạn cho thuê từ 25-50 năm. Vì vậy hình thức tô nhượng chiếm ưu thế hơn các hình thức khác. Chương trình khu chế xuất được UBND thành phố đề ra năm 1988: là một trong 8 đề tài nghiên cứu chiến lược kinh tế thành phố.

Mục tiêu xây dựng khu chế xuất thành phố Hồ Chí Minh là:

Trước hết là thu hút đầu tư nước ngoài và cả trong nước; giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, thông qua đó mà đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật và đội ngũ công nhân lành nghề cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa; Du nhập kỹ thuật hiện đại và kinh nghiệm quản lý tiên tiến; Tạo nguồn hàng xuất khẩu có sức mạnh cạnh tranh trên thị trường thế giới, góp phần hòa nhập nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới; Tăng nguồn thu nhập ngoại tệ, góp phần cải thiện cán cân ngoại thương và thanh toán quốc tế của thành phố; Mục tiêu bao trùm mang tính chiến lược là thông qua Khu chế xuất mà thúc đẩy cho được nền kinh tế nội địa phát triển, làm đòn bẩy, làm mũi nhọn đột phá để góp phần công nghiệp hóa hiện đại hóa nền kinh tế thành phố.

Thực trạng xây dựng khu chế xuất ở TP. Hồ Chí Minh

Năm 1991 và 1992, TP. Hồ Chí Minh được Trung ương cho lập 2 khu chế xuất Tân Thuận và Linh Trung.

Dự tính lấp đầy 2 khu chế xuất sẽ có 230-250 xí nghiệp ở Tân Thuận và Linh Trung, với tổng số vốn đầu tư trên 800 triệu USD, doanh thu xuất, nhập khẩu từ 2,5 đến 3 tỷ USD, khối lượng hàng hóa xuất, nhập khẩu khoảng trên 3 triệu tấn một năm, giải quyết việc làm cho 70 ngàn lao động: trong đó có khoảng 5.000-6.000 quản trị viên, nhân viên kỹ thuật cao cấp và 40.000 – 50.000 công nhân lành nghề.

Ngày 08.12.1994 Thủ tướng Chính phủ lại ra quyết định phê duyệt quy hoạch chung khu đô thị mới Bình Chánh – Nhà Bè, nam TP. Hồ Chí Minh. Đây là khu đô thị mới phát triển cùng với khu đô thị hiện có, là có một bộ phận cấu thành của TP. Hồ Chí Minh. Khu đô thị mới sẽ là một trung tâm tài chính, thương mại, dịch vụ, công nghiệp, khoa học, văn hóa giáo dục, cư trú, sinh hoạt nghỉ ngơi giải trí và giao thông vận tải; hỗ trợ cho sự phát triển của khu vực nam và đông nam Thành phố. Với quy hoạch phát triển Nam Sài Gòn mà mở đầu từ KCX Tân Thuận có tác dụng dây chuyền để từng bước thực hiện ý đồ chiến lược biến huyện nông nghiệp Nhà Bè thành một thành phố công nghiệp hướng ra biển trong tương lai.

Sau hơn 4 năm khu chế xuất Tân Thuận và Linh Trung đi vào hoạt động, bước đầu có thể rút ra một số nhận xét:

1. Hai khu chế xuất này đã thu hút 154 công ty đăng ký thuê đất, trong đó có 111 công ty được cấp giấy phép đầu tư, với diện tích đất thuê hơn 90 ha và số vốn đầu tư hơn 436 triệu USD. Hiện đã có 53 xí nghiệp đi vào hoạt động.

Có hơn 11.00 lao động đã được các xí nghiệp khu chế xuất tuyển dụng, trong dó có 70% là lao động nữ. Trong số nhà đầu tư đăng ký đóng cọc thuê đất có tổng số vốn đầu tư trên 441 triệu USD và trên 129 ha diện tích đất thuê, 52 xí nghiệp đã xuất khẩu 150 triệu USD. Vốn đầu tư bình quân cho một xí nghiệp là 3,8 USD. Xí nghiệp có vốn đầu tư thấp nhất là 1 triệu USD và cao nhất là 29 triệu USD. Xí nghiệp điện Hiệp Phước là 205 triệu USD (hưởng quy chế khu chế xuất). So với khu chế xuất Đài Loan: 7 năm sau (1966-1973) mới đạt vốn đầu tư 100 triệu USD, 15 năm sau diện tích diện tích cả ba khu chế xuất là 189 ha và vốn đầu tư một xí nghiệp là 4 triệu USD, sau nhiều năm hoạt động.

– Về cơ cấu mặt hàng của các xí nghiệp đã cấp phép phần lớn là các ngành: sợi, dệt, da, may, cơ khí chính xác, nhựa, điện tử, vi điện tử, điện công nghiệp và gia dụng, chế biến thực phẩm, bao bì các loại. Đa số máy móc thiết bị hiện đại, tự động hóa cao. Có bộ phận máy móc, thiết bị đã sử dụng, nhưng giá trị sử dụng còn lại bắt buộc nhà đầu tư phải đảm bảo trên 80%.

– Số nước đầu tư vào khu chế xuất Tân Thuận và Linh Trung: Đài Loan 39, Nhật Bản 42, Hàn Quốc 11, Hồng Kông 8,Việt Nam 1, Mỹ 2, Trung Quốc liên doanh đầu tư cơ sở hạ tầng khu chế xuất Linh Trung (riêng Linh Trung có 15 xí nghiệp đã cấp phép).

2. Về quản lý, nhờ thực hiện cơ chế “một cửa” ở nhiều khâu quản lý nên Ban quản lý các khu chế xuất đã giải quyết các thủ tục đầu tư và sản xuất kinh doanh nhanh chóng. Theo quy định thẩm định dự án và cấp phép từ 30 ngày đến 60 ngày nay giảm xuống còn 10 ngày, tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư góp phần cải thiện môi trường đầu tư.

Tùy theo từng loại hình và tính chất của từng dự án, nhà đầu tư chỉ cần trả lời đầy đủ những nội dung chủ yếu là sẽ được cấp phép. Hội đồng thẩm định không quy định thời gian cố định xét duyệt trong tháng hay trong năm mấy lần, mà sẽ họp xét duyệt ngay khi có nhà đầu tư nộp đơn để cho kịp nhu cầu. Thủ tục cho thuê đất và thủ tục cấp phép nằm trong quy trình khép kín. Hiện nay, Ban quản lý đang chỉ đạo xây dựng quy trình từ khi được cấp phép cho đến khi xí nghiệp chính thức hoạt động với thời gian ngắn nhất.

3. Ban quản lý các khu chế xuất ở thành phố, bước đầu đã quen việc và luôn luôn đổi mới quy trình, phương pháp làm việc.

Các phòng, ban trực thuộc Ban quản lý đều có quy trình nghiệp vụ về thủ tục quản lý hành chánh và điều hành theo quy trình. Các quy trình đều in ra thành văn bản, phát hành công khai dể nhà đầu tư biết và cùng thực hiện, Ban quản lý thống nhất định mức thu và nộp sử dụng lệ phí đối với các xí nghiệp khu chế xuất theo tinh thần Nghị quyết 38CP của Thủ tướng Chính phủ ngày 4-5-1994 với nguyên tắc: có lợi cho ta, nhà đầu tư chấp nhận được, và không làm ảnh hưởng đến môi trường đầu tư. Xây dựng quy chế tổ chức và bố trí cán bộ với tinh thần gọn nhẹ, trọng chất lượng hơn, thực hiện chế độ chuyên viên và công việc cần đến đâu bố trí nhân sự đến đó, và với phương châm một người có thể làm nhiều việc. Hiện nay, ngoài các phòng, ban chuyên môn, đã triển khai các xây dựng các bộ phận thuế, hải quan, công an, ngân hàng để phối hợp với Ban quản lý khu chế xuất. Xây dựng mối quan hệ thuận lợi đối với trung ương và địa phương theo quy chế khu xuất.

4. Tuy còn nhiều hạn chế, khó khăn và cản trở, nhưng nhờ vận hành theo cơ chế “một cửa”, nên hoạt động của khu chế xuất bước đầu có hiệu quả và gây ấn tượng tốt, tạo sức thu hút đối với các nhà đầu tư. Với số lượng năm sau cao hơn năm trước.

Mặc dầu vậy, các khu chế xuất ở TP. Hồ Chí Minh vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục, như: cơ sở hạ tầng, điện, nước, đường sá…) còn chưa hoàn chỉnh. Giá thuê đất và các loại phí còn chưa hợp lý, làm ảnh hưởng đến môi trường đầu . Lực lượng lao động từ quản trị viên, nhân viên kỹ thuật cao cấp và công nhân lành nghề chưa có sự chuẩn bị sẵn sàng để đáp ứng nhu cầu nhà đầu tư về số lượng, chất lượng và tiến độ. Chưa huy động tốt các nhà đầu tư trong nước và người Việt định cư ở nước ngoài đầu tư vào khu chế xuất, và chưa đa dạng hóa các hình thức đầu . Cơ chế quản lý, các thủ tục hành chính vẫn chậm đổi mới.

5. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến kết quả trên, nhưng chủ yếu do các nguyên nhân sau:

– Trong khi cơ sở hạ tầng, luật pháp và các chính sách ưu đãi ở nước ta còn nhiều hạn chế so với các nước xung quanh, khu chế xuất TP. Hồ Chí Minh thu hút được các nhà đầu tư nêu trên là nhờ Thủ tướng chính phủ cho phép thực hiện chế độ quản lý “một cửa” theo thông báo 22-CP 4-2-1993. Việc thực hiện chế độ này bằng nguyên tắc ủy quyền của các ngành, các bộ dù chưa được hoàn chỉnh (còn một vài bộ, ngành chưa thực hiện chế độ ủy quyền cho Ban quản lý các khu chế xuất).

– Bên cạnh sự chỉ đạo và kiểm tra thường xuyên của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Thành ủy, Ủy ban nhân dân và các ngành của thành phố đã quan tâm tạo điều kiện thuận lợi cho các khu chế xuất, Ban quản lý các khu chế xuất, các công ty liên doanh, cũng như các công ty đầu tư vào khu chế xuất có nhiều nỗ lực, chủ động và tích cực. Đảng, chính quyền nhân dân hai huyện Nhà Bè và Thủ Đức hết lòng ủng hộ, nhất là việc di, dời dân để có mặt bằng triển khai xây dựng khu chế xuất. Các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, các trường dạy nghề đã phối hợp với ban quản lý các khu chế xuất cung ứng kịp thời lao động cho các xí nghiệp khu chế xuất.

Còn nguyên nhân gây nên sự trì trệ, chậm chạp, chủ yếu vẫn là do chúng ta nhận thức chưa hết vai trò, vị trí của khu chế xuất, hành động thiếu tập trung thống nhất, việc rút kinh nghiệm còn chậm chạp, chưa kịp thời.

Bảng 5: Kết quả bước đầu thu hút đầu tư
ở khu chế xuất Tân thuận và Linh Trung

– Số công ty đặt cọc đất theo quốc gia và lãnh thổ

– Kết quả đăng ký đầu tư tính đến 15/11/1996:

– Kết quả cấp giấy phép đầu tư (GPĐT) tính đến 15/11/1996:

– Cơ cấu Quốc gia, lãnh thổ đầu tư tính theo số GPĐT như sau:

– Cơ cấu ngành sản phẩm tính theo số GPĐT như sau:

Nguồn: Ban quản lý các khu chế xuất thành phố Hồ Chí Minh

Nhận xét:

Khu chế xuất Việt nam và thành phố Hồ Chí Minh ra đời sau các khu chế xuất ở Châu Á từ 15 đến 30 năm, trên thế giới có những khu chế xuất thành công (20%) và nhiều khu chế xuất thất bại nên đã giúp cho ta có được những bài học kinh nghiệm về thành công và không thành công. Đồng thời cũng tạo ra những tâm lý nhận thức trái ngược nhau. Song với kết quả bước đầu của Khu chế xuất thành phố, nhất là Khu chế xuất Tân Thuận, cho chúng ta xác định Khu chế xuất còn có vai trò vị trí đặc biệt của nó và phải tiếp tục áp dụng tại Việt Nam. Vì vậy, xây dựng Khu chế xuất vẫn là chủ trương đúng. Các nước, nhất là các nước đang phát triển vẫn tiếp tục xây dựng Khu chế xuất. Vấn đề là xây dựng với mức độ nào cho vừa phải và ở đâu cho phù hợp.

– Xây dựng Khu chế xuất phải theo quy hoạch tổng thể trong cả nước, bởi vì không phải chỗ nào xây dựng Khu chế xuất cũng đều đạt kết quả. Vì vậy, không nên xây dựng ào ạt và quá nhiều Khu chế xuất (cả khu công nghiệp tập trung) trong khi chưa có quy hoạch, chính sách chưa hoàn chỉnh, tổ chức quản lý chưa rõ ràng, cán bộ quản lý điều hành chưa chuẩn bị… nên làm thí điểm rồi mở rộng. Quy mô Khu chế xuất chỉ nên trên dưới 100 ha, trường hợp cần thiết tối đa không quá 200 ha. Vì như thế mới phù hợp với khả năng tổ chức và quản lý của chúng ta hiện nay, nhưng nên có đất dự trữ xung quanh Khu chế xuất cho phát triển sau này (kinh nghiệm của Hiệp Hội Khu chế xuất thế giới) và cũng là sự cần thiết cho xu thế phát triển trong tương lai của Khu chế xuất, nó đòi hỏi ngày càng mở rộng quy mô, phát triển trong điều kiện cần thiết.

– Về xây dựng cơ sở hạ tầng: vì ta thiếu vốn nên phải liên doanh với nước ngoài để xây dựng cơ sở hạ tầng. Nếu phải liên doanh thì việc chọn đối tác là rất quan trọng (khả năng tài chính, kinh nghiệm xây dựng và quản lý, thu hút đầu tư). Đồng thời phải có chính sách đặc biệt giúp cho nhà đầu tư có khả năng thu hồi vốn sớm nhất. Ví dụ: Chính phủ cho phép nhà đầu tư Đài Loan sử dụng 600 ha trong vòng 50 năm để họ bỏ vốn ra 242 triệu USD xây dựng đại lộ Nam Sài Gòn. Ở các nước, việc xây dựng các Khu chế xuất, kể cả khu công nghiệp tập trung, hầu hết là từ vốn trong nước (vốn Nhà nước, vốn tư nhân, vốn vay…). Nếu ta xây dựng từ vốn trong nước thì Nhà nước phải có chính sách ưu đãi đặc biệt như cho thành lập công ty liên doanh, công ty cổ phần trong nước…

– Trong các mặt quản lý Khu chế xuất cần đặc biệt quan tâm quản lý xây dựng, môi trường, lao động và tài chính. Muốn vậy phải có đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn giỏi, nghiệp vụ cao, kết hợp huy động các ngành chức năng của thành phố và trung ương để xây dựng các quy chế, quy trình quản lý và căn cứ vào đó mà kiểm tra chặt chẽ các mặt hoạt động của các nhà đầu tư theo luật pháp Nhà nước. Trong đó, lưu ý quản lý tài chính, như vấn đề góp vốn của các bên liên doanh và các vấn đề sử dụng đồng vốn. Đối với các doanh nghiệp Khu chế xuất phải kiểm tra việc chuyển vốn vào tài khoản ngân hàng ở Việt Nam trước khi được cấp phép hoạt động, chú trọng kiểm tra tư cách pháp nhân và năng lực tài chính của họ để chọn đúng đối tượng…

– Trong giai đoạn đầu, ta chấp nhận trình độ máy móc thiết bị trung bình tiên tiến có sử dụng nhiều lao động nhưng phải đảm bảo giá trị sử dụng 80% trở lên. Đồng thời khuyến khích họ luôn đổi mới thiết bị ngày càng hiện đại hơn. Mặt khác, tạo mọi điều kiện và có chính sách thu hút loại doanh nghiệp kỹ thuật cao. Vấn đề tuyển dụng và quản lý lao động phải được quan tâm đúng mức ngay từ đầu, đảm bảo cả về số lượng lẫn chất lượng cung ứng đáp ứng được nhu cầu nhà đầu tư trên cơ sở huy động tối đa các ngành chức năng có liên quan trên địa bàn thành phố. Nhất thiết nên thực hiện cơ chế quản lý một cửa tại Khu chế xuất. Trước mắt nếu chưa “luật hóa” như các nước hiện đại thì thực hiện chế độ “ủy quyền” của các Bộ, ngành có liên quan cho Ban quản lý Khu chế xuất.

– Tuy nhiên, so với các nước lân cận như Trung Quốc, Malaysia, Indonexia, Thái Lan… thì môi trường đầu tư của ta còn thua kém nhiều. Vì vậy phải không ngừng cải thiện môi trường đầu tư về hạ tầng, về các chính sách ưu đãi, về thủ tục hành chính, về thị trường lao động. Có như vậy, Khu chế xuất Việt Nam mới cạnh tranh nổi với các Khu chế xuất trên thế giới, nhất là ở các nước châu Á và đảm bảo thành công.

– Một vấn đề quan trọng để đảm bảo quản lý và kinh doanh Khu chế xuất là phải có đội ngũ cán bộ có quan điểm và năng lực thích nghi với môi trường kinh tế đối ngoại. Nếu trong giai đoạn đầu ta thiếu kinh nghiệm, cần có chính sách để thu hút sử dụng cán bộ nước ngoài có nhiều kinh nghiệm về Khu chế xuất. Như ở Tân Thuận đã sử dụng số cán bộ của Đài Loan đã từng hoạt động có nhiều kinh nghiệm về Khu chế xuất tham gia lãnh đạo công ty liên doanh vừa kinh doanh cơ sở hạ tầng, vừa sử dụng họ làm một trong các đầu mối để tiếp thị lôi cuốn các nhà đầu tư từ bên ngoài vào, vì họ có mối quan hệ tốt với thị trường thế giới.

Ngoài ra hình thức B.O.T (xây dựng – hoạt động – chuyển giao) cũng là một hình thức tô nhượng.

c. Về cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước – thành lập công ty cổ phần – công tư hợp doanh

Thành lập các công ty cổ phần, các công ty hợp doanh giữa Nhà nước và tư nhân là một hình thức của CNTBNN. Để tăng hiệu quả kinh tế cho hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước một xu hướng và biện pháp quan trọng là cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước để hình thành các công ty cổ phần, các công ty liên doanh, hợp doanh. Đây là một nội dung quan trọng của việc thực hiện CNTBNN ở thành phố. Thi hành Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 2 (khóa VII-năm 1992) và chỉ thị số 202/CT ngày 8/6/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng) về việc “tiếp tục cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước và các biện pháp đa dạng hóa sở hữu đối với doanh nghiệp Nhà nước”, tháng 10 năm 1992, UBND thành phố ra quyết định thành lập Ban chỉ đạo cổ phần hóa DNNN do Chủ tịch UBND thành phố làm trưởng ban.

Sau hơn 2 năm thực hiện thí điểm cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước tại thành phố, theo báo cáo của Ban kinh tế thành ủy đến tháng 12/1994 trên địa bàn thành phố, số doanh nghiệp Nhà nước do TW và thành phố quản lý đã được chọn hoặc tình nguyện đăng ký triển khai thí điểm cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước gồm có 5 đơn vị hoàn thành việc chuyển sở hữu từ doanh nghiệp Nhà nước sang công ty cổ phần và đang hoạt động theo luật công ty là công ty cổ phần cơ điện lạnh thành phố (thuộc sở công nghiệp), công ty cổ phần đại lý liên hiệp vận chuyển (Bộ Giao thông Vận tải) và nhà máy giày Hiệp An (Bộ Công nghiệp nhẹ). Theo đánh giá của Ban kinh tế thành ủy, 3 đơn vị đã thực hiện thành công bước đầu chủ trương thí điểm cổ phần hóa và đang làm ăn có hiệu quả cao [32].

Về công ty cổ phần cơ điện lạnh thành phố, mục tiêu đặt ra khi tiến hành cổ phần là nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tính theo doanh số thực hiện, nộp ngân sách và lợi nhuận tính theo đầu người, huy động nguồn vốn lớn nhàn rỗi trong cán bộ công nhân viên và các tổ chức cũng như cá nhân ngoài doanh nghiệp. Tiếp tục phát triển mạnh các hoạt động sản xuất, thương mại dịch vụ trong lĩnh vực cơ điện lạnh, nhằm thu hút lợi nhuận nhiều nhất, làm cho đời sống cán bộ công nhân viên cao hơn so với lúc chưa cổ phần hóa và trở thành người chủ thực sự của doanh nghiệp.

Về công ty cổ phần đại lý liên hiệp vận chuyển, mục tiêu là huy động vốn dài hạn để đầu tư chiều sâu đổi mới trang thiết bị, tạo ra công nghệ mới đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước, chuyển đổi nợ vốn vay nước ngoài thành vốn cổ phần, thu tiền bán cổ phiếu trả nợ vay nước ngoài mà không phải xin Nhà nước hỗ trợ cấp vốn hoặc vay tín dụng từ ngân hàng để đầu tư.

Về nhà máy giày Hiệp An, căn cứ vào tình hình thực tế của đơn vị, mục tiêu cổ phần hóa là nhằm tạo sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý, kết hợp phát triển quy mô và năng lực sản xuất kinh doanh và huy động được nguồn vốn cổ phần để trả nợ vay ngân hàng đầu tư và hoàn trả ngân sách.

Sau thời gian hoạt động dưới hình thức cổ phần nhằm thực hiện các mục tiêu đã nêu, 3 đơn vị nói trên đã đạt kết quả bước đầu.

– Hoạt động sản xuất – kinh doanh có hiệu quả hơn trước và mở ra triển vọng phát triển mạnh hơn, thu nhập của người lao động được cải thiện rõ rệt, nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước (thông qua con đường nộp thuế) tăng lên, đảm bảo tích lũy cho doanh nghiệp để đầu tư phát triển sản xuất, làm lợi cho cổ đông, tách bạch được quyền sở hữu với quyền quản lý doanh nghiệp, hạn chế được lạm quyền và tránh được tham nhũng, chấm dứt được tình trạng sở hữu chung chung.

– Về tổ chức và quản lý, Nhà nước vẫn nắm được quyền quản lý và điều hành sản xuất vì vẫn nắm tỷ trọng cổ phần chiếm ưu thế. Ở công ty cổ phần cơ điện lạnh và nhà máy cổ phần giày Hiệp An Nhà nước giữ 30% tổng số cổ phần. Các tổ chức Đảng và đoàn thể quần chúng vẫn đảm bảo chức năng tham gia xây dựng phương hướng sản xuất kinh doanh, giám sát việc thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước của đơn vị và cùng với giám đốc lo việc điều hành. Nói chung “bố trí” được tổ chức và phối hợp tốt đã có tác dụng thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển.

– Về mặt xã hội, đã xác lập được quyền làm chủ thật sự của người lao động. Tất cả cán bộ công nhân viên đều tham gia mua cổ phần. Riêng ở công ty cơ điện lạnh, cán bộ công nhân viên giữ 50% tổng số cổ phần. Còn tại công ty cổ phần Đại lý liên hiệp vận chuyển và nhà máy giày cổ phần Hiệp An, cán bộ công nhân viên giữ 33,1% và 34,33% tổng số cổ phần. Cho nên, ngoài thu nhập tiền lương, tiền công, người lao động có thêm nguồn thu từ lợi tức cổ phần. Ở công ty cơ điện lạnh, nếu như trước kia, khi còn theo phương thức quản lý Nhà nước, quỹ khen thưởng và phúc lợi không dưới 50%, thì nay với cơ chế cổ phần chỉ còn 10% nhưng không ai thắc mắc. Trái lại công nhân muốn tái đầu tư nhiều hơn 30% để tạo hiệu quả hơn. Nhờ vậy, khi công ty cơ điện lạnh mới tròn 1 tuổi cổ phần, doanh số năm 1994 đạt 75 tỷ đồng (tăng 30 tỷ so với năm 1993) lãi 10 tỷ đồng. Thu nhập bình quân của cán bộ công nhân viên là 800.000 đồng/tháng.

Tuy nhiên, nhìn lại kết quả 3 năm thực hiện thí điểm cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước còn một số khuyết điểm tồn tại:

– Cổ phần hóa doanh nghiệp quốc doanh vẫn còn dậm chân tại chỗ, tiến độ rất chậm, nhiều doanh nghiệp chưa muốn cổ phần hóa. Tỷ lệ góp vốn chưa có quy chế rõ ràng. Nguồn vốn kinh doanh, phần lớn chỉ có đất đai với nhà xưởng, máy móc thiết bị cũ kỹ. Đội ngũ tham gia quản lý vừa thiếu, vừa chưa đủ khả năng đối tác.

– Về quan điểm còn khác nhau, có người hiểu cổ phần hóa đồng nghĩa với tư nhân hóa. Có địa phương bán hẳn tài sản cho tư nhân, quốc doanh còn lại chỉ là danh nghĩa. Về triển khai thực hiện chưa triệt để, chưa thể chế hóa bằng văn bản pháp quy và luật pháp chưa hoàn chỉnh. Quyền sở hữu của đối tượng chậm được xác định.

– Về vốn, trong một thời gian dài vẫn chưa có chiến lược huy động vốn trong nước theo hướng cổ phần hóa dể xây dựng một thị trường vốn lành mạnh và phong phú. Do đó, người dân chưa có thói quen mua cổ phiếu, trái phiếu để đầu tư vào sản xuất kinh doanh như dạng tiết kiệm sinh lời. Kinh tế quốc doanh lại chậm đổi mới quản lý, tỷ suất lợi nhuận thấp, không có sức hấp dẫn bán được cổ phiếu vì đầu tư vào cổ phần chứa đựng nhiều rủi ro hơn tiền gửi tiết kiệm. Hiện nay, vấn đề vay vốn ngân hàng của công ty cổ phần phải có thế chấp, nhưng công ty cổ phần lại không đủ chứng từ pháp nhân để thế chấp, phải năn nỉ xin được chế độ “tín chấp”. Các chính sách hiện hành vừa chưa đủ, đồng bộ vừa chưa hợp lý và chưa thống nhất, thiếu nhất quán rõ ràng. Bên cạnh đó, các công ty cổ phần non trẻ này còn phải đương đầu cạnh tranh với những đối thủ đáng gờm là các công ty nước ngoài, trong khi Nhà nước chưa có chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp Việt Nam bằng chính sách thuế ưu đãi v.v…

Hình thức công ty cổ phần – công ty hợp doanh

Nhằm tạo điều kiện pháp lý thuận lợi cho sự phát triển sản xuất trong cơ chế thị trường, Nhà nước đã ban hành luật công ty, và Luật doanh nghiệp tư nhân. Theo điều 2 của Luật công ty, các doanh nghiệp liên doanh đã được thành lập trước đây theo Nghị định 28/HĐBT-22/03/1989) nếu đủ điều kiện của Công ty Trách nhiệm hữu hạn hay công ty cổ phần đều thuộc phạm vi điều chỉnh của luật công ty. Từ chính sách hợp doanh, hợp vốn, các hình thức kinh tế cổ phần dần dần được hình thành và phát triển.

Đến nay, thành phố đã có hơn 62 Công ty cổ phần và 2.670 Công ty TNHH. Một số công ty không còn bó hẹp trong lĩnh vực sản xuất Công nghiệp mà đã phát triển nhiều lĩnh vực khác đa dạng và phong phú, bao gồm sản xuất công nghiệp, xuất nhập khẩu, thương mại, kinh doanh địa ốc, ngân hàng, đủ sức tham gia các hình thức kinh doanh hỗn hợp ít nhiều đều có gắn bó với các công ty kinh doanh nước ngoài. Hình thức hoạt động của công ty TNHH, công ty cổ phần có vốn của Nhà nước là hình thức của thành phần kinh tế tư bản nhà nước. Trong số các công ty có vốn Nhà nước hoạt động dưới dạng này đã nổi lên hàng loạt các doanh nghiệp được chuyển đổi từ hình thức doanh nghiệp liên doanh thành công ty TNHH hoạt động theo Luật định. Thành phần kinh tế tư bản nhà nước dưới hình thức cổ phần có vốn Nhà nước của thành phố đến nay có sự chuyển dịch đáng kể.

Thành phố đã có: 30 công ty cổ phần có vốn Nhà nước trong tổng số 62 công ty được thành lập, 20 công ty TNHH có vốn Nhà nước trong số 2.670 công ty được thành lập. Trong đó, từ các công ty liên doanh có vốn kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân thành lập theo Nghị định 28 của Thủ tướng Chính phủ, được chuyển thành công ty cổ phần có vốn góp của CBVC và tư nhân. Từ nhiều công ty và tổ chức kinh tế quốc doanh, công ty tư doanh góp một phần vốn của mình, cùng với vốn của các tổ chức đoàn thể, tư nhân thành lập công ty cổ phần. Từ doanh nghiệp hợp doanh chuyển thành Công ty TNHH có vốn Nhà nước của Quận. Từ doanh nghiệp công tư hợp doanh chuyển thành công ty TNHH (như các công ty của ngành vận tải…) Từ HTX bậc cao, đang lâm vào tình trạng phá sản, Thành phố đưa vốn vào để cứu sản xuất, giữ được việc làm cho công nhân để thành lập công ty cổ phần.

Qua hoạt động của các công ty cổ phần có vốn của Nhà nước cho thấy, một trong các hình thức tạo vốn nhanh nhất là giải pháp gọi vốn tư nhân cùng đầu tư với Nhà nước thông qua tổ chức Công ty theo Luật công ty. Tính đến nay hình thức này đã thu hút vốn tư nhân và tập thể hàng trăm tỷ đồng (thu hút vốn nhanh hơn và nhiều hơn cổ phần hóa DNNN). Việc thành lập công ty có vốn Nhà nước theo loại hình công ty TNHH, công ty cổ phần là giải pháp đúng đắn theo quy định của Nghị định 222/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ngày 23/07/1991.

Vận dụng hình thức kinh tế tư bản nhà nước dưới hình thức cổ phần có vốn Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ ở thành phố hiện nay:

Từ những quan điểm đổi mới cơ chế quản lý nền kinh tế của Đảng và Nhà nước ta, pháp lệnh về Ngân hàng Việt Nam đã được ban hành (05/1990). Mô hình hệ thống Ngân hàng Việt Nam được phân thành 2 cấp, với chức năng được phân định rõ ràng. Hệ thống các tổ chức kinh doanh tiền tệ ở nước ta hiện có: Ngân hàng Thương mại, ngân hàng đầu tư và phát triển, các HTX tín dụng, công ty tài chính, Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài. Thành phố hiện có 4 Ngân hàng Thương mại cổ phần có vốn Nhà nước là Ngân hàng Eximbank, Ngân hàng Sài Gòn Công thương, Ngân hàng Đông Á và Ngân hàng phát triển Nhà. Các ngân hàng này hoạt động theo thể chế cổ phần. Nhà nước nắm trọn quyền quản lý và điều hành.

Các điển hình về tổ chức tài chính ngân hàng cổ phần vừa nêu là có tác dụng tốt, phù hợp với xu thế phát triển chung. Tuy nhiên, tình hình hoạt động ngân hàng tài chính cả nước nói chung và thành phố nói riêng đang ở mức độ ban đầu, cần được tổng kết kinh nghiệm để nhân rộng ra hơn nữa nhằm góp phần đạt hiệu quả trên mặt trận kinh doanh tiền tệ. Đồng thời, để khắc phục tình trạng yếu kém và đảm bảo cho hình thức ngân hàng tài chính cổ phần phát triển tránh mọi rủi ro, vấn đề trọng tâm là vốn và nhân sự cần được quan tâm giải quyết. Trong đó phải có chính sách để thu hút nguồn vốn rất lớn trong dân, ước tính 20.000 tỷ đồng (cả nước) trong đó ở thành phố chiếm tỷ lệ đáng kể [40+42].

* Về tập đoàn kinh tế: quốc doanh nhưng có bộ phận liên doanh hợp tác với tư bản tư nhân trong và ngoài nước.

Ngày 07/03/1994, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 91/TTg về việc thí điểm thành lập tập đoàn kinh tế. Đây là một trong những giải pháp cơ cấu, tổ chức sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước. “Tập đoàn hóa” là một xu thế khách quan nhằm “tập trung hóa” bằng sức mạnh kinh tế và tài chính thay cho tình trạng phân tán, tản mạn cục bộ hiện nay của các doanh nghiệp Nhà nước về vốn liếng ở quá nhiều đơn vị có cùng một chủ sở hữu là Nhà nước và hoạt động kém hiệu quả như hiện nay.

Để thực hiện chủ trương trên, thời gian qua Thủ tướng đã cho phép thành lập các tổng công ty: Dầu khí, xi măng, cao su… Đó là sẽ là những tập đoàn kinh tế quốc doanh theo chuyên ngành trong tương lai. Ở thành phố Hồ Chí Minh, trong ngành thương nghiệp thành phố thành lập tập đoàn thương mại Sài Gòn với những mục tiêu là: tạo điều kiện thúc đẩy tích tụ vốn Nhà nước để hữu hiệu hóa và hiện đại hóa ngành thương mại thành phố, làm cho các doanh nghiệp thương mại thành phố Hồ Chí Minh định hướng chiến lược kinh doanh mới trong một thế trận mới, tạo mối quan hệ hợp tác chặt chẽ cạnh tranh nội bộ, tập đoàn thương mại sài Gòn được thành lập còn nhằm mục đích làm thí điểm thực hiện chủ trương xóa bỏ dần bộ chủ quản, cấp hành chánh chủ quản, tạo đầu mối thực hiện quyền sử dụng và quản lý các nguồn vốn Nhà nước trong ngành thương mại thành phố, tách chức năng quản lý kinh doanh ra khỏi quản lý Nhà nước, đa dạng hóa hình thức sở hữu, công tư hợp doanh… Trong tương lai, đó sẽ là một nhóm các loại hình doanh nghiệp, các viện nghiên cứu, các trường đại học được liên kết chặt chẽ chung quanh trục chính là các doanh nghiệp Nhà nước với quy mô lớn, đóng vai trò chi phối nền kinh tế quốc dân trên địa bàn thành phố và cả khu vực phía Nam: nắm các lĩnh vực then chốt, chiếm tỷ trọng lớn về sản phẩm và giá trị, là tấm gương kinh doanh lành mạnh và có hiệu quả cao, đăng ký trên thị trường chứng khoán và đóng góp tích cực cho tốc độ phát triển nền kinh tế nhưng phải chú ý nguyên tắc dân chủ, tự nguyện, cùng có lợi và có hiệu quả.

d. Về hình thức hợp tác xã

So với giai đoạn trước, loại hình HTX đã, đang có sự biến đổi rất lớn. Một số HTX chuyển thể thành công ty TNHH hoặc công ty cổ phần hoặc cá thể. Một số HTX làm ăn có tiếng tăm vẫn giữ mô hình kinh tế tập thể. Có HTX chỉ còn trên danh nghĩa khoán cho xã viên hoặc tư nhân hoạt động sản xuất kinh doanh và nộp một phần lệ phí. Một số HTX mây tre lá, thủ công mỹ nghệ sản xuất và đời sống gặp nhiều khó khăn. Một số hợp tác xã hoạt động cầm chừng để “chờ thời…”. Một số HTX tan rã vì không thích ứng nền kinh tế thị trường. Một số chuyển sang hình thức nghiệp đoàn như nghiệp đoàn xích lô đạp.

Nhìn chung, thành phần kinh tế tập thể ngày càng giảm sút rõ rệt về số lượng cũng như về giá trị tổng sản lượng. Tính từ năm 1988-1993 các HTX tiểu thủ công nghiệp giảm trên dưới 80%. Từ trên 700 HTX nay còn 145, tổ sản xuất tiểu thủ công nghiệp từ gần 3000 nay còn 342. Về tỷ trọng giá trị tổng sản lượng từ 45% nay còn khoảng 6%. HTX vận tải của ngành giao thông giảm gần 70%. Từ 500 HTX nay còn trên 100 HTX. Hợp tác xã ngành xây dựng thì giảm hầu hết (trước đây HTX xây dựng có vài trăm). Một số hợp tác xã trước đây nhiều tư bản tư nhân núp dưới hình thức kinh tế tập thể. Nay trong nền kinh tế thị trường các hợp tác xã kiểu này trở lại đúng bản chất của nó [43]. Từ năm 1988 đến nay, tại thành phố Hồ Chí Minh, chưa xuất hiện một hợp tác xã nào trong công nghiệp dịch vụ xin thành lập mới vì Nhà nước chưa kịp thời đề ra chủ trương chính sách phù hợp để mở lối ra cho hợp tác xã.

Đối với hợp tác xã nông nghiệp

Sau hội nghị tổng kết các hình thức hợp tác xã ở Hóc Môn tháng 11/1993, các huyện và quận ven còn hợp tác xã nông nghiệp đã tiến hành điều tra, khảo sát để xác định nội dung hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp. Trên cơ sở kết quả điều tra, khảo sát: một số huyện đã tiến hành thanh lý một số hợp tác xã nông nghiệp không còn khả năng hoạt động. Tính đến tháng 8/1994 toàn thành phố chỉ còn lại 10 hợp tác xã, tập trung là ở Thủ Đức: 5 hợp tác xã, Quận 8: 3 hợp tác xã, Gò Vấp: 3 hợp tác xã (giảm 8 hợp tác xã so với 11/1993). Hoạt động chủ yếu của hợp tác xã tập trung vào việc dịch vụ cung cấp phân bón, thuốc trừ sâu, bảo vệ thực vật, thú y, làm đất… Tùy vào điều kiện cụ thể của từng hợp tác xã mà ban quản lý đã tổ chức kinh doanh các dịch vụ khác nhau để phục vụ bà con nông dân.

Các hình thức kinh tế hợp tác mới

– Do hợp tác xã và tập đoàn sản xuất tan rã, ở ngoại thành đã hình thành nhiều dạng hợp tác xã tên gọi khác nhau như tổ hợp tác hội nghề nghiệp của nông dân đã phát triển mạnh, thu hút đông đảo quần chúng tham gia. Tổ hợp tác là dạng hợp tác tự nguyện giữa các hộ nông dân hoặc giữa những người lao động với nhau ở từng khâu hay nhiều khâu công việc nhằm bổ sung về vốn, công cụ lao động, sức lao động và kinh nghiệm sản xuất với 238 tổ hợp tác kinh tế (được tổng kết 11/1993).

Sau gần 1 năm (tính từ khi Hội nghị Tổng kết hợp tác xã nông nghiệp tháng 11/1993) ở ngoại thành phát triển thêm 210 tổ hợp tác: tổ quản lý điện, tổ đường nước, tổ hợp tác thu mua chế biến sữa (Củ Chi), tổ sản xuất bột mì (Thủ Đức), tổ hợp tác vần đổi công (Gò Vấp), tổ thêu đan (Quận 8), tổ xây dựng (Cần Giờ), 14 tổ hợp tác dịch vụ, tổ hợp tác buôn bán phân bón, thuốc trừ sâu (Nhà Bè), tổ buôn bán nhỏ (Cần Giờ)… Đến nay có khoảng 853 tổ hợp tác dưới dạng “Tổ liên đới trách nhiệm, chi hội, tổ đường nước”, tổ nuôi cua… Gần đây, tình hình ngoại thành có xu hướng thiếu lao động, nhất là vào thời vụ căng thẳng, một công lao động thuê mướn lên tới 25.000 – 30.000 đồng/ngày. Để giải quyết các khâu làm đất, gieo trồng các tổ phải vần đổi công để giải quyết các khó khăn trên… [33].

Về tín dụng nhân dân trong nông thôn

Đến 31/12/1994 đã có 179 quỹ tín dụng nhân dân được cấp giấy phép hoạt động thuộc 14 tỉnh chọn làm thí điểm (trong đó có các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và thành phố Hồ Chí Minh) với tổng số 46.045 thành viên tham gia, trong đó có 172 quỹ tín dụng nhân dân đang hoạt động chính thức. Tổng số nguồn vốn hoạt động là 85,9 tỷ. Vốn điều lệ là 10,8 tỷ đồng, chiếm 12,6%. Nguồn vốn huy động là 55,2 tỷ đồng, chiếm 69,2%. Tổng dư nợ còn 72,5% tỷ đồng, trong đó có 43,2% đầu tư trực tiếp cho sản xuất nông nghiệp 38,7% cho kinh doanh dịch vụ 9,1% cho vay phát triển ngành nghề và đời sống. Kết quả thu nhập lớn hơn chi phí (lãi gộp) là 2,9 tỷ đồng. [33+40].

Kết quả bước đầu triển khai đề án đổi mới nổi lên một số vấn đề đáng chú ý:

– Hoạt động của các quỹ ngày càng đi vào nề nếp ổn định, xu hướng phát triển tốt, phù hợp với yêu cầu của đời sống kinh tế ở nông thôn. Số thành viên tự nguyện tham gia ngày càng đông, quy mô hoạt động và doanh số tăng nhanh, hầu hết các quỹ hoạt động đều có lãi, uy tín của quỹ tín dụng nhân dân ở những địa phương thí điểm ngày càng cao.

– Bảo đảm cho vay phục vụ cho nhu cầu phát triển sản xuất và đời sống của các thành viên góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, cải thiện kinh tế hộ gia đình, góp phần xóa đói giảm nghèo.

– Các hoạt động điều hành, phối hợp, kiểm tra đã có những tiến bộ rõ rệt, như việc điều hành lãi suất tiền gửi và cho vay đã được quỹ xử lý linh hoạt, nhạy bén theo quan hệ cung cầu vốn trên thị trường, và quy định về lãi suất khung của ngân hàng thương mại hoặc kho bạc… Công tác tài chính và quản lý tài chính được đánh giá là lành mạnh, chưa có những dấu hiệu vi phạm pháp luật, lãng phí làm thất thoát tài sản.

Tồn tại đáng chú ý: Chưa mạnh dạn kết nạp thành viên tham gia quỹ và chưa có biện pháp tích cực để huy động các nguồn vốn nhàn rỗi tại chỗ. Một số quỹ chưa nhanh nhạy trong điều chỉnh lãi suất huy động vốn, việc điều hòa vốn một số tỉnh còn lúng túng. Một số quỹ cho vay ngoài thành viên, chưa đảm bảo qui định về an toàn vốn, công tác bảo hiểm tiền gửi còn chậm. Một số quỹ cho vay còn ít vốn bị ứ đọng hoặc cho vay quá qui định, một số khách hàng sử dụng sai mục đích tiền vay. Số nợ quá hạn đến 31/12/1994 là 536 triệu và đang có xu hướng tăng [33].

Thành phố Hồ Chí Minh cũng đang xây dựng quỹ tín dụng dưới dạng thí điểm bước đầu có tác dụng tốt.

Về hợp tác xã mua bán

Ngành hợp tác xã mua bán thành phố được chính thức thành lập từ tháng 10/1975. Màng lưới hợp tác xã nhanh chóng phát triển rộng khắp các phường xã, quận huyện. Lúc cao nhất có đến 300 hợp tác xã phường, xã và 18 công ty hợp tác xã quận, huyện. Số xã viên tới hàng triệu người (mỗi hộ có 1-2 xã viên). Từ năm 1987 khi chuyển sang hạch toán kinh doanh hợp tác xã lúng túng trong kinh doanh phục vụ, hiệu quả kinh tế xã hội đều giảm sút. Từ 1989-1991 thời kỳ đầy “Phong ba bão táp” của hợp tác xã mua bán. Từ 278 hợp tác xã phường, xã còn lại 153 hợp tác xã, trong đó có nhiều hợp tác xã yếu kém. Trong 17 công ty thương nghiệp hợp tác xã quận huyện (trừ Duyên Hải) có 10 đơn vị thua lỗ phải thanh lý giải thể. Còn 7 đơn vị: Q.3, Q.5, Q.11, Q.Tân Bình, Bình Thạnh, Củ Chi chỉ hoạt động cầm chừng. Giải thể công ty TN hợp tác xã thành phố và hợp tác xã tín dụng thành phố.

Tháng 5/1989 các đơn vị cấp thành phố đã được tổ chức lại theo quyết định 258 của UBND thành phố, thành lập ngành hợp tác xã mua bán thành phố vừa kinh doanh vừa tổ chức quản lý phong trào, được phép xuất nhập khẩu trực tiếp với 6 đơn vị trực thuộc, đã từng bước trụ lại và hoạt động có hiệu quả. Từ 1991-1993, là thời kỳ trụ, củng cố và có những chuyển biến tích cực.

Cuối năm 1991, thành ủy ra thông tư 96 và UBND Thành phố ra chỉ thị 52, một lần nữa xác định tính chất, vai trò, nhiệm vụ của tổ chức hợp tác xã: chỉ đạo việc củng cố, ngăn chặn những trường hợp giải thể không đúng luật pháp và điều lệ. Cho phép liên hiệp hợp tác xã mua bán thành phố tiếp nhận các hợp tác xã cơ sở và liên hiệp hợp tác xã quận huyện thành một hệ thống chỉ đạo xuyên suốt và chịu trách nhiệm củng cố lại cho phù hợp.

Kết quả là hiện nay còn 93 hợp tác xã, trong đó có 19 hợp tác xã liên phường và 3 hợp tác xã liên xã, 1 hợp tác xã toàn quận 5. Doanh số kinh doanh hàng năm giữ ổn định, 1991: 119,4 tỷ, 1992: 108,6 tỷ, 1993: 157 tỷ, doanh số này chủ yếu là bán lẻ. Về căn bản khắc phục được tình trạng thua lỗ. Có những mô hình tổ chức kinh doanh và phục vụ tốt trên địa bàn dân cư lao động. Kinh doanh toàn ngành tăng khá từ 311,3 tỷ (năm 1991), sang 1992 đạt 639 tỷ, năm 1993 là 1.120 tỷ. Năm 1994 doanh số mua vào 1.370 tỷ vượt 19,7% so cùng kỳ và bán ra 1.446 tỷ vượt 18,6% so cùng kỳ năm trước. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu toàn ngành là 35 triệu USD bằng 60% so cùng kỳ [41]

e. Tư nhân bỏ vốn sản xuất kinh doanh (tư bản tư nhân)

Cho phép tồn tại, khuyến khích hình thành, hoạt động, phát triển tư bản tư nhân dưới sự quản lý, điều hành kiểm kê kiểm soát theo định hướng XHCN của Nhà nước là một hình thức của CNTBNN.

Sau Đại hội VI, đặc biệt là từ Đại hội VII của Đảng đến nay cùng với quá trình thực hiện chiến lược phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, kinh tế tư doanh ở thành phố Hồ Chí Minh đã có những bước phát triển đáng kể bao gồm doanh nghiệp tư doanh, công ty tư doanh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần… Tính đến giữa tháng 7/1993, trên địa bàn thành phố đã có 1.549 doanh nghiệp, công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân hoạt động theo luật công ty được thành phố cấp giấy phép hoạt động với tổng số vốn đăng ký 1.160,78 tỷ đồng. Chỉ tính riêng số lượng cơ sở đăng ký ở thành phố Hồ Chí Minh bằng 2 lần Hà Nội và 50 lần ở Hải Phòng [1+3]. Qui mô vốn đăng ký kinh doanh bình quân một cơ sở là 749 triệu đồng (tương đương 150 cây vàng). Công ty TNHH có số cơ sở và số vốn đăng ký cao nhất (chiếm 73% số cơ sở và 67,3% số vốn). Công ty cổ phần có số cơ sở ít hơn (48 cơ sở) nhưng đó là những cơ sở lớn, có số vốn cao, bình quân một cơ sở bằng 10 lần công ty TNHH và 30 lần doanh nghiệp tư nhân. Doanh nghiệp tư nhân 371 cơ sở, bình quân vốn 1 cơ sở là 207 triệu đồng (biểu 6)

Biểu 6: Số cơ sở được cấp giấy phép kinh doanh đến năm 1993

Nguồn: Cục thống kê thành phố 08/1993

Qua khảo sát thực tế cũng như đánh giá của người có trách nhiệm thì giữa vốn đăng ký kinh doanh và vốn thực tế hoạt động của các doanh nghiệp chênh lệch nhau rất lớn. Ước tính vốn thực tế hoạt động của các doanh nghiệp nhiều hơn vốn đăng ký 5-7 lần, có những doanh nghiệp thậm chí 10-20 lần.

Vấn đề này có thể do một số nguyên nhân sau:

+ Về phía các doanh nghiệp có ý định trốn thuế cũng có thể là do những phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp mở rộng sản xuất, cũng có thể là do cả hai.

+ Về phía các cơ quan chức năng, việc quản lý còn có những sơ hở hoặc chính sách thuế chưa hợp lý.

Theo số liệu thống kê. số cơ sở hoạt động hằng năm đều tăng nhanh, nhất là công ty TNHH và doanh nghệp tư nhân trong hai năm gần đây (xem biểu 7)

Biểu 7: Tinh hình cấp giấy phép cho cơ sở qua từng thời kỳ

Nguồn: Thống kê thành phố 08/1993

Các doanh nghiệp, công ty tư nhân đăng ký hoạt động ở nhiều ngành , nghề, nhưng tập trung nhiều nhất là sản xuất công nghiệp: 33%, thương nghiệp 60%, hai ngành này chiếm tới 83% số cơ sở và 65% tổng số vốn, kế đó là các ngành xây dựng, tài chính tín dụng, vận tải, nhà ở. Thấp nhất là ngành nông nghiệp (4 cơ sở 600 triệu đồng vốn). Ngành lâm nghiệp, bưu điện, khoa học, giáo dục, văn hóa, y tế rất ít. Nhiều đơn vị xuất nhập khẩu trực tiếp.

Vốn được tích lũy từ trước, nhưng nguồn này thường chỉ đủ đầu tư cho những doanh nghiệp loại nhỏ. Cơ sở loại khá, vốn lớn thì phần nhiều là có sự góp vốn của nước ngoài vào hỗ trợ cho đầu tư tư nhân thông qua: thân nhân, bạn bè, quen biết… đưa vào, với nhiều hình thức: hùn vốn, cho vay trả chậm, cho mượn, giúp đỡ, bằng nhập chính ngạch, nhập phi mậu dịch… Số lãi được chia, số vay mượn cũng được trả bằng nhiều cách: trả bằng hàng xuất, bằng sản phẩm, bằng trừ dần tiền gia công.. Không loại trừ hình thức chuyển ngân lậu. Điều này đặt ra cho ta suy nghĩ để tìm ra biện pháp, cách thức huy động vốn này của nước ngoài một cách có hiệu quả nhất.

Qua điều tra 454 đơn vị từ tổ hợp đến các doanh nghiệp tư nhân. công ty TNHH, công ty cổ phần cho thấy có tới 90% số máy móc thiết bị ở tình trạng còn tốt, 2% tình trạng trung bình, 8% ở tình trạng cũ. Máy móc nhập từ nước ngoài chiếm tới 55% trong đó có khoảng 35% từ các nước phương Tây. Trình độ công nghiệp, 26,7% số doanh nghiệp với công nghệ hiện đại, 11,2% số doanh nghiệp với trình độ công nghệ cổ truyền và 73% số doanh nghiệp kết hợp trình độ công nghệ hiện đại với công nghệ cổ truyền. Hiện đã có tới 50% các doanh nghiệp tư nhân thành phố có hàng xuất khẩu ra nước ngoài. Qua đó cho thấy, các doanh nghiệp đã tăng cường đầu tư cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.

Trong 3 loại hình thì công ty cổ phần, công ty TNHH thu hút nhiều lao động nhất (138-182 lao động). Trong các cơ sở có quy mô doanh thu loại vừa (1-10 tỷ đồng/năm) đã thu hút gần một nửa số lao động hoạt động trong các doanh nghiệp trong ngành. Các cơ sở làm hàng xuất khẩu có số lao động bình quân 250 người, gần bằng số lao động ở các doanh nghiệp quốc doanh thành phố (XNQD: 272 người) trong đó ở công ty cổ phần 226, công ty TNHH 275, DNTN: 63, có nhiều cơ sở thu hút hàng ngàn lao động. Ngành thương nghiệp tuy có nhiều cơ sở, nhưng số lao động bình quân 1 cơ sở thấp (15,5 người) dưới 20 người (80%) có 13 cơ sở trên 50 người và 3 cơ sở trên 100 người. Trong các công ty tài chính, tín dụng thì có số lao động bình quân 78 người.

Như vậy, sự phát triển của các cơ sở tư doanh không chỉ góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng, phát triển kinh tế của thành phố, tạo nên những động lực cho nền kinh tế phát triển năng động hiệu quả mà còn góp phần đáng kể vào việc giải quyết tình hình xã hội nan giải là việc làm cho người lao động. Do đó, sự phát triển của khu vực kinh tế tư doanh không thuần túy chỉ thể hiện ở hiệu quả kinh tế đầy thuyết phục của nó mà còn cả hiệu quả kinh tế xã hội nữa.

f. Về cơ chế tổ chức quản lý và hệ thống chính sách đối với CNTBNN ở thành phố Hồ Chí Minh

Đối với đầu tư nước ngoài

Cơ chế quản lý đầu tư trực tiếp của nước ngoài về cơ bản đã được định hình trong luật đầu . Trong quá trình đi vào cuộc sống, cơ chế này đã được sửa đổi bổ sung nhiều lần làm cho nó phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện của nước ta. Cơ chế quản lý đầu tư nước ngoài của ta trên những nét cơ bản đã từng bước thích ứng được với nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý Nhà nước bằng chính sách và pháp luật. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động theo cơ chế thị trường trong khuôn khổ luật dầu tư và các văn bản có liên quan. Họ được chủ động kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật, tự do điều hành doanh nghiệp.Các cơ quan Nhà nước hữu quan quản lý các doanh nghiệp này theo qui định của pháp luật và trên cơ sở chức năng nhiệm vụ được Nhà nước giao bảo đảm nguyên tắc không được can thiệp vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Tập trung quản lý các hoạt động đầu tư vào một mối, đó chính là cơ quan Nhà nước quản lý đầu tư nước ngoài của Chính phủ CHXHCN Việt Nam. Thực hiện mô hình quản lý một cửa theo điều 36 luật đầu tư, ở trung ương có ủy ban hợp tác đầu tư Trung ương nay là bộ kế hoạch và đầu tư và Ban Quản Lý KCX Công Nghiệp Việt Nam. Để quản lý các Khu chế xuất thành phố có ban quản lý các Khu chế xuất thành phố Hồ Chí Minh do Chính phủ bổ nhiệm vừa làm nhiệm vụ cấp phép vừa quản lý các doanh nghiệp Khu chế xuất.

Tuy nhiên cơ chế quản lý đầu tư vẫn không ngừng hoàn thiện với những sửa đổi bổ sung chủ yếu sau đây:

– Tiếp tục mở rộng hình thức hợp tác đầu .

– Mở rộng quyền hợp tác đầu tư với nước ngoài cho các doanh nghiệp Việt Nam thuộc các thành phần kinh tế.

– Xác lập những hình thức đầu tư mới như “Hợp tác xây dựng kinh doanh – chuyển giao (BOT) ký kết giữa các tổ chức hoặc cá nhân người nước ngoài với cơ quan Nhà nước Việt Nam để xây dựng, khai thác công trình hạ tầng trong một thời gian nhất định.

– Kéo dài thêm thời hạn của các dự án đầu tư: từ thời hạn qui định không quá 20 năm trước đây tăng lên không quá 50 năm. Trong trường hợp cá biệt, thời hạn này sẽ kéo dài hơn, nhưng tối đa không quá 70 năm.

– Xác lập những thể chế mới về tổ chức đầu tư: như Khu chế xuất được hưởng qui chế quản lý đặc biệt và theo chế độ quản lý một cửa.

– Cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được mở tài khoản vốn vay tại ngân hàng nước ngoài.

– Nhà nước Việt Nam giải quyết thỏa đáng quyền lợi của nhà đầu tư trong trường hợp các qui định pháp luật Việt Nam thay đổi làm thiệt hại đến lợi ích của nhà đầu tư v.v… [12].

Ngày 28/12/1994, Chính phủ ban hành quy chế hình thành thẩm định và thực hiện dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài theo NĐ 291/CP về cải tiến thủ tục đầu tư.

– Gần đây Chính phủ ban hành qui chế khu công nghiệp tập trung. Với những sửa đổi, bổ sung các qui định của luật đầu tư, cơ chế quản lý đầu tư thực sự được điều chỉnh theo hướng “mở” cả đối với người đầu tư nước ngoài cũng như người đầu tư trong nước, trên cơ sở đa dạng hóa các hình thức và các thể chế về tổ chức đầu tư, mở rộng quyền hợp tác với bên ngoài cho các doanh nghiệp trong nước, không phân biệt thành phần kinh tế.

(Mới đây Nhà nước ta lại ban hành luật đầu tư nước ngoài vào ngày 12/11/1996).

Cơ chế quản lý đầu tư nước ngoài đến nay về cơ bản phù hợp với phương hướng đổi mới cơ chế quản lý kinh tế chung của nước ta và có nhiều điểm tương đồng với cơ chế quản lý đầu tư của nhiều nước đang phát triển.

Đối với đầu tư trong nước

– Luật khuyến khích đầu tư trong nước ban hành ngày 5/7/1994 nhằm động viên người Việt Nam trong và ngoài nước, kể cả người nước ngoài cư trú lâu dài ở Việt Nam bỏ vốn đầu tư xây dựng đất nước. Ngày 19 tháng 12 năm 1994, để khuyến khích đổi mới và phát triển kinh tế hợp tác xã, Thủ tướng ra Quyết định số 763/TTg. Các văn bản này đã và đang có tác dụng lớn thúc đẩy sự phát triển các thành phần kinh tế trong nước trong thời gian qua.

Tuy nhiên, luật pháp của ta vẫn chưa hoàn chỉnh, có nhiều khâu quan trọng trong quá trình quản lý chưa được luật hóa hoặc những văn bản dưới luật lại trái với luật (thậm chí cả hiến pháp). Mặt khác, tính chưa đồng bộ và chưa nhất quán trong quá trình quản lý cùng một luật, mỗi người hiểu mỗi kiểu khác theo chủ quan, vì những điều luật quá chung, chính sách không nhất quán đã làm ảnh hưởng đến môi trường thu hút đầu tư cả trong và ngoài nước. Đặc biệt tổ chức quản lý của ta vừa lỏng lẻo, vừa cứng nhắc do còn mang nặng của cơ chế quan liêu bao cấp.

So với nhu cầu phát triển các hình thức CNTBNN rất phong phú đa dạng nhưng luật pháp hiện chưa theo kịp để bảo hộ cho chúng được phát triển an toàn ổn định lâu dài. Trong lĩnh vực này, về cơ bản thành phố thực hiện một cách khá triệt để những văn bản đổi mới về chính sách và quản lý mô chung của Nhà nước.

II- Những kết luận đánh giá về sự vận dụng CNTBNN ở thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua

a. Những kết quả đã đạt được

Thành quả bao trùm nhất là từ khi có NQĐH VI đến nay thông qua chủ trương chính sách đổi mới mở cửa và con đường CNTBNN, ta đã vượt qua được khủng hoảng kinh tế xã hội và từng bước đưa đất nước và thành phố đi lên, xóa dần được cơ chế hành chính quan liêu bao cấp và chuyển dần sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý Nhà nước, phá được thế bao vây cấm vận của Mỹ, buộc Mỹ phải tuyên bố quan hệ bình thường với Việt Nam vào ngày 11/7/1995 và mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại.

1. Về tốc độ tăng trưởng của sản xuất kinh doanh

Trong bối cảnh tăng trưởng và phát triển chung của cả nước vào những năm gần đây, sự tăng trưởng của TP. HCM – một trung tâm kinh tế lớn và là một địa bàn đầy năng động của đất nước – đã có những đóng góp tích cực vào thành tựu chung của nền kinh tế Việt Nam. Qua những số liệu thống kê cho thấy, tốc độ tăng GDP của TP. HCM thường cao hơn 4%-5% so với tốc độ tăng GDP của cả nước và đóng góp một tỷ trọng ngày càng cao trong GDP của cả nước (xem bảng 8).

Chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế

+ Xét về thành phần kinh tế, những số liệu thống kê cho thấy, tuy kinh tế quốc doanh chiếm tỷ trọng GDP cao nhất, nhưng tốc độ tăng trưởng chỉ tương đương với kinh tế ngoài quốc doanh (bình quân 13% trong 4 năm 90 – 93). Đặc biệt là khu vực liên doanh đầu tư với nước ngoài tuy chưa đóng góp nhiều vào GDP nhưng có tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ. Điều này cũng phù hợp với đường lối xây dựng nền kinh tế có nhiều thành phần và khuyến khích vốn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam.

Bảng 8: Sự tăng trưởng GDP của thành phố so với cả nước

Nguồn: Tổng cục thống kê và Cục thống kê thành phố

+ Xét về mối tương quan giữa các thành phần kinh tế trong nước và ngoài nước cho thấy mức tăng tưởng cao của TP.HCM trong những năm qua chủ yếu do tiềm lực trong nước hơn là do nước ngoài (xem bảng 9).

Những số liệu này khẳng định tiềm lực trong nước là tác nhân chính đưa mức tăng trưởng GDP đi lên, với sự đóng góp gần như ngang nhau giữa hai khu vực quốc doanh và ngoài quốc doanh. Tuy nhiên, với tốc độ tăng nhanh vốn đầu tư nước ngoài trong những năm sắp tới và vốn đưa vào sử dụng lớn hơn thì khả năng gia tăng GDP khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có thể vượt trội trong nước nếu chúng ta không có chính sách hợp lý để thúc đẩy đầu tư trong nước.

+ Xét trong một số ngành kinh tế, xu thế tăng trưởng cao của thành phần ngoài quốc doanh đã dẫn đến mức đóng góp vào GDP ngày càng lớn, tạo ra một cuộc cạnh tranh giành lấy thị trường (xem bảng 10):

Qua số liệu nêu trên cho thấy khu vực ngoài quốc doanh mới đóng góp khoảng hơn 1/3 thị trường, nhưng lại có tăng trưởng đều đặn.

Bảng 9: Cơ cấu thành phần kinh tế trong GDP

Nguồn: Cục thống kê thành phố

2. Chuyển dịch cơ cấu tích lũy, tiêu dùng và đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng

Song song với sự tăng trưởng GDP, việc phân phối thu nhập quốc dân giữa tích lũy và tiêu dùng cũng có sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng tích cực: gia tăng tích lũy, phần tiêu dùng chiếm tỷ trọng ngày càng ít lại (xem bảng 11).

Bảng 10: Cơ cấu thành phần kinh tế trong giá trị TSL
và hàng hóa thực hiện

Nguồn: Cục thống kê thành phố

Vốn đầu tư XDCB tăng được huy động tư nguồn vốn tiềm tàng trong khu vực tư nhân đưa ra đầu tư hưởng ứng chủ trương của Đảng, Nhà nước phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và có nguồn vốn từ bên ngoài theo luật đầu tư. Qua cơ cấu nguồn vốn đầu tư XDCB chúng ta sẽ thấy nguồn tư nhân hàng năm tăng cao. Đặc biệt trong khu vực quốc doanh cũng đã có sự chuyển dịch cơ cấu đầu tư XDCB. Nguồn từ địa phương (ngân sách và tự tài trợ của DNNN) dần dần chiếm tỷ trọng cao và tốc độ tăng cũng cao hơn nguồn từ TW.

Bảng 11: Cơ cấu tích lũy – tiêu dùng trong thu nhập quốc dân sử dụng

Nguồn: Cục thống kê thành phố

Từ năm 1991, VĐT. XDCB đã tăng mạnh mẽ đồng loạt ở cả khu vực quốc doanh và ngoài quốc doanh từ TW đến địa phương. Đây chính là một lý do để chứng minh vì sao có sự chuyển biến mạnh mẽ trong sự tăng trưởng GDP từ năm 1992 như đã nói trên (xem bảng 12)

Bảng 12: Cơ cấu vốn đầu tư xây dựng cơ bản thời kỳ 1990-1993

Nguồn: Cục thống kê thành phố

Qua các biểu thống kê đã nêu, hình thức kinh tế tư bản nhà nước bao gồm kinh tế ngoài quốc doanh và các hình thức đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng ngang bằng với kinh tế quốc doanh, lại có tốc độ phát triển rất nhanh, có khả năng vượt kinh tế quốc doanh trong tương lai. Rõ ràng kinh tế TBNN đã góp phần vô cùng quan trọng thúc đẩy sự tăng trưởng nền kinh tế xã hội thành phố vừa qua và trong tương lai nó sẽ ở vị trí chi phối tốc độ tăng trưởng nền kinh tế xã hội thành phố (kể cả vốn đầu tư xây dựng cơ bản).

3. Nâng cao hơn mức sống của người dân thành phố

Thu nhập bình quân của một lao động được tăng lên qua các năm. Theo kết quả điều tra thu nhập, bình quân thu nhập của một lao động thành phố năm 1993 đạt 580 ngàn đồng/tháng, tăng 50% so với năm 1992. Trong khi đó chỉ số tăng giá là 101,6 (tăng 1,6%). Mức tiêu dùng hàng hóa dịch vụ bình quân của dân cư tăng 18% so với năm trước. Các tiện nghi sinh hoạt trong các hộ gia đình năm sau cao hơn năm trước, từ 1990 đến 1993 bình quân hàng năm tăng 13-15%. Năm 1993 cứ 100 hộ gia đình thì có 47 hộ có tivi, 29,7 hộ có đầu máy video, 62,4 hộ có radio cassette, 54,3 hộ có xe gắn máy, 23,5 hộ có tủ lạnh. Chỉ tiêu nhà ở hàng năm đều tăng, số căn hộ được xây dựng và sửa chữa mới hàng năm tăng bình quân từ 5%-7% [39+45].

b. Những mặt còn hạn chế

* Về kinh tế

Cũng phải thừa nhận rằng kinh tế thành phố đã có bước tăng trưởng và đạt được những kết quả nêu trên, song vẫn chưa tương xứng với tiềm lực của thành phố. Kinh tế tăng trưởng nhưng còn trong tình trạng không ổn định. Trình độ công nghệ nói chung là còn lạc hậu và chậm đổi mới, trang bị phần lớn chắp vá và không đồng bộ, năng lực khai thác thấp. Nhiều ngành kinh tế kỹ thuật vẫn còn sản xuất đơn chiếc, nhỏ lẻ, lao động thủ công chiếm phần lớn, giá thành sản phẩm cao, kém sức cạnh tranh với hàng ngoại nhập. Thị trường trong nước của hàng công nghiệp thành phố bị xâm lấn, thu hẹp, thị trường ngoài nước bấp bênh không ổn định. Cơ cấu kinh tế theo ngành, theo lãnh thổ, theo thành phần kinh tế có sự chuyển biến nhưng không đáng kể. Việc sắp xếp cơ cấu lại DNNN và đổi mới khu vực HTX, cổ phần hóa DNNN còn tiến hành chậm chạp và hiệu quả chưa cao. Chấn chỉnh quản lý và khuyến khích đầu tư tư nhân vào các lĩnh vực sản xuất còn nhiều vấn đề chưa triển khai tháo gỡ, quản lý vừa nhiều đầu mối, chồng chéo, đồng thời lại tạo ra nhiều sơ hở cho các hoạt động phi pháp. Những tồn tại nêu trên theo chúng tôi có những nguyên nhân chủ quan là:

– Thiếu qui hoạch định hướng phát triển trên địa bàn thành phố một cách cụ thể, thiếu các biện pháp và các định chế yểm trợ phát triển: Cơ sở hạ tầng kém đang còn là trở lực đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế và thu hút đầu tư trong nước và ngoài nước. Hệ thống các công trình kỹ thuật hạ tầng, vừa thiếu vừa bị quá tải lại không được sửa chữa bảo dưỡng kịp thời nên bị hư hỏng nghiêm trọng. Mạng lưới đường của thành phố chỉ mới đáp ứng được 50% yêu cầu cho hoạt động kinh tế và phục vụ dân sinh, vừa lại hư hỏng nặng.

– Đầu tư cho cơ sở hạ tầng xã hội (giáo dục – đào tạo – y tế, khoa học chưa tương xứng với tầm vóc của một đô thị lớn, chưa đáp ứng với yêu cầu phát triển. Tỷ lệ công nhân kỹ thuật được đào tạo chính qui chỉ chiếm 2,9% trong độ tuổi lao động, trung học chuyên nghiệp 34,2% cao đẳng, đại học và trên đại học chiếm 3,74%.

– Môi trường kinh doanh còn quá nhiều yếu tố rủi ro – bất trắc, gây nản lòng các nhà đầu tư trong nước và cả nước ngoài; Bộ máy hành chính Nhà nước chưa được cải tiến đồng bộ dẫn đến tình trạng chỉ đạo và quản lý còn nhiều đầu mối thiếu tập trung và thống nhất. Bệnh quan liêu hành chính giấy tờ, cửa quyền cũng tồn tại ở các cấp quản lý, nhất là ở những nơi còn lưu lại các yếu tố bao cấp hoặc lộng hành.

– Một nguyên nhân cơ bản mang tính chất quyết định đó là yếu tố nhân sự và cán bộ, do chính sách sử dụng cán bộ chưa đúng mức thể hiện qua chính sách tiền lương, qua các yếu tố kích thích vật chất, tinh thần khác đã dẫn tới tình trạng khu vực Nhà nước (quản lý Nhà nước và DNNN) mất đi một đội ngũ cán bộ có trình độ, có năng lực. Họ rời khu vực Nhà nước để qua khu vực tư nhân, đầu tư nước ngoài nơi họ được đãi ngộ tương xứng với sức lao động và khả năng cống hiến hơn. Một số cán bộ đưa ra làm việc trong công ty liên doanh, hợp tác nước ngoài vừa yếu về năng lực lại kém về phẩm chất. Mặt khác, số đảng viên ra làm kinh tế tư nhân ngày càng nhiều với nhiều hình thức khác nhau nhưng Đảng và Nhà nước thả nổi không có một định chế rõ ràng.

– Vấn đề xây dựng Đảng và đoàn thể trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp tư nhân chưa được quan tâm đúng mức nên tổ chức Đảng và đoàn thể ở lĩnh vực này rất mỏng và lúng túng về nội dung và phương thức hoạt động.

* Về xã hội

– Tốc độ tăng dân số vượt quá khả năng phát triển đã kìm hãm tốc độ tăng trưởng và gây hậu quả về các mặt xã hội. Dân số TP.HCM trong những năm qua vẫn không ngừng tăng với tỷ lệ cao, bình quân thời kỳ 1990-1993 tăng 3,7%/năm, trong đó tỷ lệ tăng dân số tự nhiên bình quân 1,58%/năm, và tỷ lệ tăng dân số cơ học bình quân 2.12%/năm.

– Tăng trưởng khá trên một nền tảng pháp lý còn hạn chế đã tạo nên sự phân hóa thu nhập, phân hóa xã hội theo chiều hướng khó kiểm soát, không điều tiết được bằng công cụ thuế thu nhập. Kết quả điều tra mức sống năm 1993 cho thấy khoảng cách giữa nhóm người giàu và nghèo ở nội thành là 15 lần, ở nông thôn ngoại thành là 10 lần. Tỷ lệ số hộ nghèo ở nông thôn ngoại thành chiếm khoảng 40% cao hơn nhiều so với nội thành, tỷ lệ này ở nội thành là 18,1%. Tỷ lệ hộ giàu có đời sống cao ở nội thành là 8,4%, ngoại thành là 7,5%. Mức chi tiêu bình quân của người dân nội thành cao hơn mức chi tiêu bình quân của người dân ngoại thành là 1,62 lần.

* Về môi trường sinh thái

– Trong lịch sử phát triển của mình, quá trình công nghiệp hóa Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia định trước đây không đồng nhịp với quá trình đô thị hóa và tăng dân số. Do luật đầu tư của chính quyền cũ, từ năm 1972 hàng loạt doanh nghiệp công nghiệp quy mô lớn nhỏ ra đời ở Biên Hòa – Thủ Đức – Sài Gòn. Nó không có quy hoạch các khu công nghiệp ngay từ đầu, ngoại trừ khu công nghiệp Biên Hòa. Phần lớn các cơ sở doanh nghiệp công nghiệp và TTCN nằm xen lẫn trong các khu dân cư, gần trường học, bệnh viện. Có nhiều cơ sở sản xuất nhỏ và vừa. Các cơ sở này ít chú ý đến điều kiện lao động và khống chế ô nhiễm môi trường.

– Trình độ công nghệ thấp 60-80% số lượng máy móc chính sản xuất trước năm 1975, chỉ có khoảng 5-15% số lượng máy móc sản xuất sau 1985. Các công nghệ này quá cũ, lạc hậu. năng suất thấp, tiêu thụ nhiều nhiên liệu, gây ô nhiễm môi trường. Trong những năm gần đây do thiếu thông tin, nhiều dự án liên doanh với nước ngoài đã nhập công nghệ cũ, ô nhiễm môi trường với mức cao.

– Hầu hết các cơ sở sản xuất không có hệ thống xử lý nước thải trực tiếp thải khí thải, làm ô nhiễm không chỉ xảy ra trong phạm vi nhà máy, mà lan rộng cả khu vực vùng xung quanh. Gia tăng các bệnh nghề nghiệp trong các cơ sở sản xuất, như bệnh điếc, bệnh lao… đặc biệt là bệnh nhiễm độc bụi chì, lượng chì trong máu của công nhân tăng cao và bệnh sạm Daniel, ung thư Daniel…

– Diện tích cây xanh xung quanh các cơ sở công nghiệp, TTCN rất ít, nhiều nơi hoàn toàn không có. Diện tích quá chật chội, điều kiện ánh sáng, thông gió kém đã ảnh hưởng xấu đến sức khỏe công nhân và không ngăn được bụi, khói, khí độc lan tỏa đến vùng xung quanh, làm gia tăng phạm vi và mức độ ô nhiễm.

c. Một số kết luận có thể rút ra từ thực tiễn phát triển CNTBNN ở thành phố Hồ Chí Minh thời gian qua

1. Những thành quả bước đầu nêu trên cho chúng ta khẳng định việc vận dụng CNTBNN: về nội dung, phương thức, bước đi là đúng đắn, phù hợp hoàn cảnh đặc thù của nước ta. Chúng ta đã vượt qua nhiều thử thách lớn lao, tưởng chừng không vượt qua được, đưa đất nước tiến lên thời kỳ mới, bảo vệ độc lập chủ quyền quốc gia và chế độ XHCN, tạo tiền đề cho những bước phát triển tốt hơn.

2. Chủ nghĩa Mác-Lênin, nhất là học thuyết TBNN của Lênin đã được Đảng ta vận dụng một cách sáng tạo, phong phú đa dạng trên cơ sở biết phối hợp mô hình TBNN XHCN và TBNN TBCN, vừa vận dụng nguyên lý Lênin kết hợp có chọn lọc các học thuyết, kinh nghiệm quản lý tiên tiến TBCN với truyền thống dân tộc.

3. Chính sách đổi mới đầu tư mở cửa của ta bước đầu đem tới lợi ích thiết thực tạo ra tiền đề quan trọng thực hiện thắng lợi con đường CNTBNN trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Bên cạnh đó phát sinh hằng ngày hằng giờ đầy rẫy khó khăn phức tạp đặt đất nước trước những thử thách mới phải đương đầu mà Đại hội toàn quốc giữa nhiệm kỳ đã tổng kết 4 nguy cơ: Tụt hậu so với các nước chung quanh; Chệch hướng XHCN; Tham nhũng buôn lậu; Âm mưu diễn biến hòa bình của địch.

Qua nghiên cứu nguyên lý của Lênin và tư tưởng HCM về CNTBNN và qua quá trình vận dụng vào thực tiễn TP.HCM cho ta có những nhận xét tổng quát sau đây:

– CN Tư bản Nhà nước nó không chỉ là hình thức hay thành phần kinh tế mà nó đã trở thành thật sự là phương sách xây dựng kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Nó vừa là giải pháp tình thế, vừa là con đường chiến lược, vừa là sách lược để thu hút các thành phần kinh tế đi lên CNXH.

– Trong quá trình mở cửa hợp tác với các nước TBCN bên ngoài và mở rộng sự hoạt động TB tư nhân trong nước để ngăn ngừa tính tự phát TBCN, ngăn ngừa sự chệch hướng XHCN, CNTBNN là con đường chắc chắn đưa nền kinh tế nước ta đi đúng hướng XHCN. Đồng thời tạo điều kiện giữ vững độc lập tự chủ nước nhà.

– Từ sản xuất nhỏ đi lên sản xuất lớn XHCN bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN nhưng phải đi qua con đường CNTBNN đó là một tất yếu lịch sử. Ở nước ta quá trình vận dụng CNTBNN không phải chúng ta chỉ vận dụng sáng tạo nguyên lý Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn tiếp nối truyền thống mở cửa của ông bà ta từ 400 năm nay, mà mở đầu từ khu kinh tế Phố Hiến.

– CNTBNN tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế thị trường và đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước nhằm phát triển lực lượng sản xuất, tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH. Giữa CN hóa hiện đại hóa và CNTBNN có mối quan hệ thúc đẩy lẫn nhau.

– CNTBNN có khả năng tận dụng nguồn lực bên trong lẫn bên ngoài và có điều kiện thúc đẩy phát huy nguồn lực bên trong đóng vai trò chủ yếu và nguồn lực bên ngoài là rất quan trọng có tác dụng kích thích ban đầu cho nền kinh tế nội địa phát triển. Đồng thời Nhà nước XHCN có điều kiện thuận lợi để kiểm soát và điều tiết kinh tế TBCN trong và ngoài nước theo quỹ đạo XHCN.

– Tuy nhiên sự phát triển CNTBNN chỉ trong giới hạn nào đó và với những điều kiện nhất định, để sự phát triển các quan hệ thị trường và quan hệ TBCN cả trong và ngoài nước là không nguy hại cho định hướng XHCN. Về nguyên tắc điều kiện then chốt là:

+ Chính quyền nằm trong giai cấp công nhân và chính quyền đó phải đủ mạnh và kiên trì theo đuổi mục tiêu XHCN.

+ Về mặt thực tiễn điểm chủ yếu là Nhà nước XHCN biết đặt ra những giới hạn cho sự phát triển, đặt nó dưới sự kiểm soát của Nhà nước XHCN. Những giới hạn này do cuộc sống thực tiễn, do tương quan sức mạnh cụ thể của các lực lượng kinh tế xã hội quyết định.

+ Cơ sở kinh tế để Nhà nước đưa ra các giới hạn và đặt sự phát triển của các quan hệ TBCN vào những giới hạn đó là mức độ Nhà nước khống chế các điểm xung yếu của nền kinh tế. Điều này được thể hiện ở quyền và năng lực chi phối của Nhà nước đối với đất đai, nhưng cao điểm chỉ huy như các ngân hàng và cơ sở công nghiệp lớn nhất và sức mạnh tài chính của Nhà nước v.v…

+ Quá trình quan hệ với CNTB quốc tế, để tận dụng và sử dụng sức mạnh của nó nhất thiết phải có trả giá. Cái giá đó bao gồm khoản “Cống nạp vật chất” mức lợi nhuận mà các công ty TBCN thu được có thể cao hơn mức bình thường, sự nhân nhượng về các điều kiện hoạt động, trả lương khá cao cho chuyên gia nước ngoài v.v… Song, về nguyên tắc, cái giá đó không bao giờ được phép nhân nhượng về định hướng phát triển kinh tế XHCN và sự độc lập tự chủ về kinh tế, chính trị của đất nước.

Tóm lại: từ thực trạng vận dụng CNTBNN ở thành phố Hồ Chí minh thời gian qua, đặc biệt từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, có thể nêu ra một số nhận định và vấn đề đặt ra trong thời gian tới là:

1. Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến một bước khá dài trong quá tình vận dụng CNTBNN của Lênin vào hoàn cảnh thực tiễn của thành phố, đặc biệt trước khi có nghị quyết của ĐH Đảng lần thừ VI. Quá trình vận dụng CNTBNN là quá trình Đảng bộ và chính quyền thành phố dám nghĩ, dám làm, biết làm và dám chịu trách nhiệm trong việc thể nghiệm mô hình kinh tế mới từ thấp lên cao, từ nhỏ đến lớn, đó cũng là quá trình kiên trì dũng cảm đấu tranh lâu dài để đảm bảo sự đoàn kết nhất trí ngày càng cao trong nội bộ từ trung ương đến địa phương về quan điểm CNTBNN. Sự kiên trì đấu tranh đó thể hiện cả về phương diện lý luận để hướng dẫn hành động và trong chỉ đạo thực tiễn để làm sáng tỏ và bổ sung thêm cho lý luận, đồng thời không ngừng đấu tranh chống các quan điểm lệch lạc nhằm phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, về CNTBNN và chính sách kinh tế mới của Lênin.

2. Muốn vận dụng CNTBNN phải trải qua quá trình nghiên cứu công phu nắm một cách có hệ thống nguyên lý của Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về CNTBNN, đồng thời nghiên cứu kỹ quá trình lịch sử hình thành CNTB ở thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ chế độ cũ, cũng như nghiên cứu lịch sử mở cửa của ông bà ta trước đây, từ đó mà đề ra chiến lược phát triển kinh tế xã hội thông qua con đường CNTBNN, coi đó là vấn đề xuyên suốt trong nền kinh tế thành phố, coi đó là một động lực thúc đẩy các thành phần kinh tế phát triển, nhằm thực hiện chiến lược đổi mới mở cửa.

3. Tốc độ phát triển CNTBNN vừa qua và sắp tới khá nhanh và trên nhiều lãnh vực nhưng về quản lý ta chưa bao quát được, nhất là chưa luật hóa về CNTBNN. Đồng thời bộ máy và cán bộ quản lý chưa theo kịp với đà phát triển CNTBNN. Vì vậy, luật hóa CNTBNN và tăng cường bộ máy cán bộ quản lý, cán bộ vào đối tác là yếu tố quyết định đảm bảo đưa việc vận dụng CNTBNN đến thành công.

4. Trong điều kiện đổi mới mở cửa ngày càng thuận lợi và cũng có không ít khó khăn phức tạp, vì vậy việc vận dụng CNTBNN sắp tới đòi hỏi phải sáng tạo, linh hoạt mạnh dạn hơn nữa, nhưng phải đảm bảo nguyên tắc của Lênin đã đề ra.

Chương VII
Những giải pháp chủ yếu
nhằm đẩy mạnh hơn nữa sự phát triển của CNTBNN ở TP. Hồ Chí Minh
trong thời gian tới

1. Quan điểm và phương hướng phát triển CNTBNN ở thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới

Từ sự trình bày nghiên cứu nguyên lý của V.I Lênin về CNTBNN trong thời đại quá độ lên CNXH từ một nước còn tương đối nghèo nàn lạc hậu, cũng như những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về sự cần thiết phải thực hiện CNTBNN ở nước ta trong thời kỳ quá độ từ một nước vốn sản xuất nhỏ còn là phổ biến tiến lên CNXH, bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN, đồng thời qua nghiên cứu trình bày thực trạng vận dụng, phát triển CNTBNN ở thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua cho ta bức tranh khái quát về tính tất yếu, cũng như xu hướng phát triển của CNTBNN ở thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và cả nước nói chung trong thời gian tới. Tính tất yếu và xu hướng phát triển đó diễn ra trong một thời kỳ tương đối lâu dài, đến khi chúng ta xây dựng thành công CNXH trên khắp cả nước.

Nghiên cứu thực tiễn các mô hình CNTBNN trên thế giới, cùng với việc vận dụng, phát triển CNTBNN ở thành phố Hồ Chí Minh cũng cho chúng ta hình dung sự phát triển của CNTBNN ngày càng phong phú dưới nhiều hình thức khác nhau. Thực tiễn sẽ chỉ ra những hình thức thích hợp đồng thời thực tiễn cũng yêu cầu phải biết vận dụng sáng tạo các hình thức của CNTBNN vào điều kiện cụ thể của từng nước, từng địa phương, từng thời kỳ cách mạng và xây dựng CNXH, xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Vai trò lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn của Đảng cầm quyền, công tác quản lý vĩ mô của Nhà nước XHCN trong việc định hướng phát triển và vận dụng các hình thúc cùa CNTBNN trong từng nơi, từng thời kỳ là hết sức quan trọng. Cùng với việc đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh sự phát triển các hình thức của CNTBNN trong thời gian tới, thì việc đề ra những quan điểm và phương hướng phát triển CNTBNN nhằm thống nhất chủ trương và định hướng phát triển đúng đắn là hết sức cần thiết.

Những quan điểm cơ bản đối với sự phát triển CNTBNN ở thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và cả nước nói chung trong thời gian sắp tới sẽ là:

1. Thông qua thực trạng vận dụng các hình thức CNTBNN tại thành phố Hồ Chí Minh cho chúng ta thấy rằng CNTBNN là loại hình quan trọng, hình thức phổ biến ở nước ta để đi lên CNXH. Vì vậy nó trở thành một nội dung cực kỳ quan trọng của đường lối xây dựng kinh tế của nước ta, của thành phố đi lên CNXH. Nó là con đường để đưa các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh đi vào quỹ đạo XHCN nhằm tránh được chệch hướng XHCN khi chúng ta mở cửa cho tư bản bên ngoài vào đầu tư và tư bản tư nhân trong nước hoạt động.

2. Phát triển CNTBNN phải trên cơ sở các chủ trương chính sách của Đảng, luật pháp nhà nước, phải giữ vững độc lập tự chủ, đảm bảo nền văn hóa dân tộc và bản sắc người Việt Nam và giữ vững định hướng XHCN.

3. Phát triển CNTBNN phải nhằm khai thác một cách đầy đủ, hợp lý và có hiệu quả mọi tiềm năng của thành phố để phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập cho người dân một cách vượt bậc.

4. Phát triển CNTBNN phải đảm bảo cho nền kinh tế thành phố phát triển nhanh, sớm đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sớm hòa nhập với nền kinh tế thế giới xứng đáng vị trí trung tâm công nghiệp, KHKT, văn hóa và giao dịch quốc tế của khu vực và cả nước.

5. Phát triển CNTBNN phải đảm bảo giữ gìn tốt môi trường của thành phố. Coi đây là nguyên tắc cực kỳ quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội thành phố.

Tóm lại, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường dưới sự quản lý Nhà nước XHCN là đường lối xây dựng kinh tế trong thời kỳ quá độ, thực chất là chúng ta vận dụng sáng tạo nguyên lý của Lênin về CNTBNN trong điều kiện mới, về cả hoàn cảnh quốc tế lẫn bối cảnh trong nước.

– Phương hướng chung là tạo mọi điều kiện để phát triển CNTBNN mạnh dạn hơn, triệt để hơn, một cách có nguyên tắc nhằm đưa nền kinh tế xã hội thành phố và cả nước đi lên theo định hướng XHCN. Cụ thể là:

1. Cần mạnh dạn mở rộng phát triển CNTBNN ở thành phố hơn nữa trong các ngành công nghiệp

Gồm cả dầu khí, nông nghiệp, thương nghiệp, xuất nhập khẩu, tài chính ngân hàng… và trên lĩnh vực sản xuất – kinh doanh – dịch vụ. Trong đó, về quản lý mô phải nắm cho được đỉnh cao của ngành tài chính, ngân hàng, tiền tệ tín dụng, giá cả… Coi đó là công cụ chủ yếu để kiểm soát và điều tiết các thành phần kinh tế vào quỹ đạo XHCN.

2. Khuyến khích phát triển nhiều loại hình CNTBNN trên địa bàn thành phố chủ yếu là hình thức

2.1. Mở rộng nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằng kế hoạch (kết hợp với thị trường) và các công cụ kinh tế khác của nhà nước là một loại hình CNTBNN tại thành phố Hồ Chí Minh.

2.2. Sử dụng phổ biến hình thức hợp tác, liên doanh liên kết với các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Ở đây, một mặt cần khuyến khích mạnh mẽ dầu tư nước ngoài, nhưng cần khuyến khích mạnh mẽ tới sự hợp tác liên doanh với các nhà đầu tư trong nước trên cơ sở tôn trọng bình đẳng, tận dụng phát huy vai trò và năng lực của họ trên tinh thần hợp tác lâu dài.

2.3. Sử dụng có trọng tâm trọng điểm hình thức tô nhượng trong đó có phát triển hình thức 100% vốn nước ngoài thông qua mô hình KCX, khu công nghiệp tập trung, khu công nghệ cao, hình thức B.O.T…

2.4. Phát triển ở diện rộng và qui mô lớn các loại hình công ty cổ phần trên cơ sở cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước và cổ phần hóa các doanh nghiệp tư nhân có sự góp vốn nhà nước ở các ngành và lĩnh vực hoạt động cần thiết quan trọng, trong đó kinh tế Nhà nước ở vị trí chi phối.

2.5. Sử dụng rộng rãi các loại hình hợp tác xã trong TTCN, giao thông vận tải, nông nghiệp, thương nghiệp, tín dụng nhằm lôi cuốn tập hợp hàng triệu tiểu chủ, tiểu thương, tiểu nông vào quỹ đạo XHCN.

2.6. Cho TBTN trong nước hoạt động đúng mức dưới sự kiểm kê kiểm soát của nhà nước với nhiều chính sách ưu đãi theo luật khuyến khích đầu tư trong nước góp phần cùng với doanh nghiệp nhà nước tạo nội lực cho nền kinh tế ngày càng chiếm vị trí ưu thế trong nền kinh tế.

2.7. Vận dụng CNTBNN dưới hình thức cho thuê nhà cửa, đất đai doanh nghiệp, nhà xưởng cho nhà đầu tư trong và ngoài nước, cho nông dân thuê ruộng đất để canh tác, sản xuất ở quy mô vừa và nhỏ.

2.8. Cho tư nhân làm đại lý ủy thác hoặc ký gởi cho các doanh nghiệp nhà nước hay đấu thầu các công trình xây dựng.

2.9. Tổ chức cho tư nhân cá thể làm gia công cho doanh nghiệp nhà nước đặt hàng.

2.10. Sử dụng đội ngũ chuyên gia tư bản trong nước và ngoài nước coi đó là nhân tố quan trọng để thực hiện thắng lợi con đường CNTBNN.

3. Hết sức ưu tiên đối với đầu tư của người Việt Nam (kể cả kiều bào ở nước ngoài).

Trong nước cần vận dụng phương châm nhà nước nhân dân cùng góp vốn cùng đầu tư cùng chia lãi trên nguyên tắc lời ăn lỗ chịu dưới nhiều hình thức, mức độ khác nhau. Đối với kiều bào ở nước ngoài có chính sách khuyến khích để họ tích cực phát huy đầu tư chất xám trong khoa học kỹ thuật và trong giáo dục, thông tin. Đồng thời huy động vốn ở chừng mực nhất định.

4- Làm cho CNTBNN là hình thức kinh tế quan trọng góp phần xứng đáng vào sự nghiệp sản xuất kinh doanh, giải quyết công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người dân thành phố, vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố.

2. Những biện pháp chủ yếu để phát triển CNTBNN trong thời gian tới

Để thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển các hình thức của CNTBNN, đồng thời làm cho chúng phát triển đúng hướng, có hiệu quả, phát huy tác dụng đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của thành phố, cũng như của cả nước. Thành phố cần áp dụng các biện pháp chủ yếu sau:

A – Mở rộng các loại hình CNTBNN trên địa bàn thành phố

1. Đối với hình thức tô nhượng

Tiêu biểu cho hình thức này là KCX ta cho nhà đầu tư thuê 50 năm, có thể gia hạn nếu thấy cần. Để đảm bảo thành công ngoài những vấn đề chung có liên quan đến việc thu hút đầu tư nước ngoài, KCX Việt Nam cần chú ý những vấn đề thiết yếu sau:

a – Cần phải nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn nữa về vị trí vai trò của các KCX. Một số nước chậm phát triển đã đi lên bằng mở đầu từ KCX. Đối với Việt Nam khi nền kinh tế còn sản xuất nhỏ là phổ biến thì KCX có vai trò mũi đột phá để mở đường thực hiện công nghiệp hóa. hiện đại hóa nền kinh tế xã hội, góp phần giữ vững định hướng XHCN trong quá trình phát triển đất nước. KCX là mô hình để thể nghiệm các chính sách kinh tế mới nhằm góp phần bổ sung vào chủ trương đường lối, luật pháp ngày càng hoàn thiện hơn. Các chủ trương chính sách mới chưa thể áp dụng rộng rãi bên ngoài được thì đưa vào KCX áp dụng thử một thời gian sau đó nhân rộng ra bên ngoài. KCX, khu công nghiệp tập trung và khu công nghiệp kỹ thuật cao, mỗi loại có thế mạnh, có thuận lợi khó khăn khác nhau nhưng chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau, cái này là tiền đề, là chỗ dựa cho cái kia, chúng bổ sung cho nhau bởi vậy liên kết chúng lại trên cùng một địa bàn chắc chắn sẽ tạo ra sức mạnh rất to lớn.

b – Cần gắn quy hoạch phát triển các KCX với quy hoạch phát triển thành phố, khu vực cả nước. Khi quy hoạch thành phố hết sức quan tâm đến định hướng phát triển Nam Sài Gòn đã được Chính phủ phê duyệt. Trung ương và thành phố cần tập trung chỉ đạo các KCX và KCN là trọng điểm để thực hiện chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố. Xây dựng KCX Tân Thuận và vùng kinh tế Nam Sài Gòn thành đặc khu kinh tế có quy chế riêng, có bộ máy quản lý theo chế độ một đầu mối thống nhất (một cửa), sớm xây dựng và đưa vào hoạt động các công trình cơ sở hạ tầng, đường cao tốc Bắc Nhà Bè, Nam Bình Chánh. nhà máy điện Hiệp Phước, cảng nước sâu sông Soài Rạp… Như vậy đặc khu kinh tế đó bao gồm KCX, các khu công nghiệp tập trung cả khu công nghiệp kỹ thuật cao, các công trình văn hóa xã hội như quy hoạch Nam Sài Gòn mà Chính phủ phê duyệt.

c – Vấn đề có tính chiến lược là thông qua việc giải quyết hàng hóa xuất ra nhập vào giữa khu chế xuất với bên ngoài nội địa thuận lợi sẽ góp phần liên kết chặt chẽ khu chế xuất và kinh tế nội địa, thúc đẩy kinh tế nội địa phát triển.

d – Cần khuyến khích nhà đầu tư sản xuất hàng sử dụng nhiều nguyên vật liệu nội địa góp phần thúc đẩy sản xuất công nghiệp và nông nghiệp thành phố phát triển. Đặc biệt, khuyến khích các xí nghiệp chế biến thực phẩm trong KCX liên kết với ngoại thành và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam Bộ, đầu tư xây dựng các vùng nguyên liệu ổn định có kết hợp gia công chế biến cung cấp cho các doanh nghiệp KCX, góp phần thực hiện chương trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp thành phố và khu vực. Khuyến khích các nhà đầu tư KCX góp phần tổ chức các khu công nghiệp làm vệ tinh gia công cho các xí nghiệp khu chế xuất. Mặt khác cho phép xí nghiệp KCX được xuất vào nội địa nếu có nhu cầu.

e – Cần đa dạng hóa các đối tượng đầu tư và đa dạng hóa các hình thức đầu tư như quy chế đã quy định. Chú ý khuyến khích các nhà đầu tư trong nước và số người Việt Nam định cư ở nước ngoài bỏ vốn và chất xám tham gia xây dựng các xí nghiệp trong các KCX. Có thể thành lập doanh nghiệp liên doanh, hợp tác giữa công ty nội địa và công ty nước ngoài đầu tư vào KCX.

f – Sử dụng các KCX thành nơi đào tạo cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý và đội ngũ công nhân lành nghề mang tầm cỡ quốc tế để tạo ra đội ngũ cán bộ thực hiện chủ trương công nghiệp hóa hiện đại hóa, đáp ứng được thị trường lao động. Nên hình thành các trung tâm bồi dưỡng nhân lực cho các KCX (cả công nghiệp tập trung). Các trường Đại học, cao đẳng tăng cường phối hợp với doanh nghiệp KCX nhằm gắn chặt giữa giáo dục đào tạo với thực tiễn công nghệ và quản lý kinh tế.

g – Kinh nghiệm một số nước có nền kinh tế và hoàn cảnh gần gũi với Việt Nam thường chia làm 3 bước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, điển hình như Đài Loan. Bước đột phá mở đầu bằng việc lấy KCX làm trọng điểm. Bước phát triển mở rộng cả nước: bằng việc hình thành các khu công nghiệp tập trung. Bước nâng cao: bằng khu công nghiệp kỹ thuật cao. Khi áp dụng kinh nghiệm này vào Việt Nam ta không thể đi tuần tự như thế được vì sẽ rất chậm, theo chúng tôi nên cùng một lúc làm cả 3 bước. Mỗi bước có vai trò vị trí riêng của nó phải được coi trọng và tập trung chỉ đạo tới nơi tới chốn mới đảm bảo thành công.

Chúng tôi đề nghị Trung ương và Thành phố có chỉ đạo tổng kết KCX thành phố Hồ Chí Minh sau 5 năm hoạt động, từ đó rút kinh nghiệm cho chỉ đạo chung các KCX cả nước. KCX nào có triển vọng thành công thì giữ nguyên cơ chế KCX. KCX nào có khả năng thành công nhưng không đạt như dự kiến thì một phần giữ lại hưởng chế độ KCX còn lại chuyển sang khu công nghiệp trong đó có một số doanh nghiệp hưởng qui chế KCX. KCX nào hoàn toàn không có khả năng phát triển theo hướng đã định thì chuyển hẳn sang khu công nghiệp tập trung.

h- Thực hiện triệt để Nghị quyết 38CP cải tiến thủ tục hành chánh, kiện toàn, nâng cao không ngừng trình độ quản lý của cán bộ, hoàn chỉnh hệ thống pháp lý có liên quan đến vấn đề đầu tư KCX, đảm bảo nhất quán về chủ trương và chính sách KCX, kiên trì thực hiện cơ chế một cửa.

i- Cần xúc tiến việc xây dựng Công đoàn, xây dựng Đảng, xây dựng bộ máy quản lý KCX ngang tầm với nhiệm vụ. Hệ thống chính trị KCX phải công khai hoạt động và hòa nhập, thích nghi được điều kiện đặc thù KCX để làm tốt nhiệm vụ của mình. Ban quản lý tổng hợp chức năng khác nhau theo nguyên tắc ủy quyền của các Bộ, các ngành, ban quản lý chịu sự lãnh đạo trực tiếp của đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh và chịu sự quản lý trên địa bàn của UBND thành phố. Cần xây dựng đội ngũ cán bộ vững vàng về chính trị, có năng lực trình độ quản lý, có phong cách tiếp cận tốt với công việc đối ngoại.

Để thực hiện tốt chính sách tô nhượng, vấn đề quan trọng nhất là làm thế nào để biến đất đai thành quỹ hàng hóa. Qua tiếp cận với thị trường quốc tế, một trong những môi trường hấp dẫn có sức thu hút mạnh mẽ vốn đầu tư nước ngoài của Việt Nam hiện nay là đất đai của Việt Nam còn rẻ hơn so với nhiều nước có vốn đầu tư ra nước ngoài. Về lý thuyết giá cả bao giờ cũng phải xuất phát từ giá trị và phải xoay quanh giá trị. Đất đai lại là một loại hàng hóa đặc biệt, nên sử dụng nó ta phải hết sức cân nhắc và vận dụng đúng đắn quy luật này.

Trước năm 1990, tức là trước khi có luật đầu tư nước ngoài giá mỗi mét vuông đất nội thành bình quân khoảng 1 chỉ vàng. Sau khi mở cửa 4 năm (1990-1994) các nhà đầu tư mới ném vào đây 3,6 tỷ USD mà giá đất từ bình quân 1 chỉ lên một cây vàng một mét vuông (có nơi hiện nay là 3-4 cây vàng một mét vuông). Nếu 4 hoặc 5 năm tới các nhà đầu tư trong và ngoài nước ném vào thành phố 10 tỷ USD thì giá đất cũng sẽ tăng lên như thế nào? Trong khi đó một vài nước có nền kinh tế phát triển từ lâu giá đất cũng không cao hơn ta hiện nay, khi mà hàng mấy trăm năm họ đã đầu tư vào mỗi thành phố lớn của họ hàng trăm tỷ USD. Giá trị đất đai không chỉ tăng lên hợp lý khi đất đai đó được đầu tư một cách có hiệu quả. Đồng thời đất đai càng có giá trị ở chỗ nó có tác dụng thu hút mạnh mẽ vốn đầu tư trong và ngoài nước bởi giá cả hợp lý của nó. Vì vậy, việc định ra giá cả đất đai hợp lý làm cho nhà đầu tư chấp nhận được có ý nghĩa thực tiễn cực kỳ quan trọng trong việc tạo ra môi trường thuận lợi để thu hút vốn đầu tư nước ngoài và cả trong nước. Chúng tôi đề nghị Chính phủ, Ủy ban Nhân dân thành phố phải hết sức thận trọng trong việc định ra chính sách giá cả đất đai, đừng để bị động trước các “cơn sốt nhà đất” hoặc do túng tiền ta đẩy giá lên một cách bất hợp lý. Có thể trước mắt ta thu được một lượng tiền nhất định, nhưng hậu quả lớn nhất sẽ ảnh hưởng lâu dài cho môi trường đầu tư. Thực tế các nước đi trước chúng ta đã có nhiều bài học kinh nghiệm về hậu quả này như Hàn Quốc. Mặt khác khi định giá đất đai, cần hết sức lưu ý yếu tố cạnh tranh của các nước lân cận về chính sách giá cả đất đai. Vì có nước họ định giá đất đai thấp hơn ta nhiều, thậm chí những vùng khó khăn họ cho không một thời gian dài 10-20 năm miễn là nơi đó phát triển dược kinh tế, cải thiện được đời sống nhân dân. Tất nhiên ta không thể làm y hệt họ được, nhưng không thể không nghĩ đến yếu tố cạnh tranh trong thu hút đầu tư.

Một vấn đề mang tính nguyên tắc trong chính sách sử dụng CNTBNN, nhất là chính sách tô nhượng, là phải xác định rõ giới hạn cho phép phát triển hình thức kinh tế này trong mối tương quan cụ thể với kinh tế XHCN. Mặt khác, ta phải vừa hợp tác vừa đấu tranh hạn chế những mặt tiêu cực của họ.

Ngày nay hình thức tô nhượng được vận dụng linh hoạt phong phú hơn như đặc khu kinh tế, khu công nghiệp tập trung, khu kinh tế tự do hoặc hình thức B.O.T (xây dựng – hoạt động – chuyển giao). Đối với ta, các hình thức này cần được áp dụng có trọng tâm trọng điểm trên cơ sở nghiên cứu rút kinh nghiệm thế giới, và luôn luôn giữ vững nguyên tắc Lênin đã đề ra như đã nêu ở phần trên nhằm đảm bảo định hướng XHCN.

2. Về giải pháp cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

a – Cần đảm bảo tính công khai và dân chủ trong quá trình cổ phần hóa, nhất là trong quá trình định giá doanh nghiệp và bán cổ phiếu. Các cơ quan ngôn luận cũng cần được thông báo kịp thời chính xác để đáp ứng sự quan tâm của quần chúng đối với việc xử lý tài sản nhà nước.

b – Cần dành một tỉ lệ thích đáng cổ phần bán công khai ra ngoài xã hội một cách có tổ chức không những đáp ứng yêu cầu bổ sung nguồn vốn mà còn đảm bảo tính công khai và sự quan tâm của công nhân.

c – Phải đảm bảo cân đối giữa các lợi ích, trong đó có lợi ích người lao động, của đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật, lợi ích của tư nhân góp vốn và yêu cầu bổ sung thêm vốn trong quá trình cổ phần hóa.

d – Quá trình cổ phần hóa đòi hỏi phải có sự chuẩn bị chu đáo của bản thân doanh nghiệp, nhất là về mặt tài chánh, kế toán, làm cho doanh nghiệp thật sự lành mạnh, các thông số quan trọng về doanh nghiệp phải công khai và rõ ràng để có sức thuyết phục đối với cổ đông và các cơ quan có trách nhiệm. Vì vậy, sự nỗ lực, quyết tâm của cán bộ phụ trách doanh nghiệp là rất quan trọng.

e – Trong quá trình cổ phần hóa, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có liên quan trong việc giải quyết những vấn đề lịch sử để lại như trách nhiệm về phúc lợi xã hội mà doanh nghiệp Nhà nước vẫn gánh vác cần được chuyển giao cho chính quyền và xã hội đảm nhận. Cổ phần hóa đòi hỏi ngoài sự tham gia của cơ quan tài chính với tư cách là người quản lý tài sản nhà nước là chủ yếu, mà còn có sự tham gia của cơ quan chính quyền địa phương trong một chừng mực nào đó là rất cần thiết,

f – Chính quyền cần có những văn bản hướng dẫn qui trình cổ phần hóa, qui trình định giá và thẩm định của nhà nước, đồng thời có sự phân cấp thích đáng thẩm quyền quyết định cho địa phương tiến hành cổ phần hóa để tránh sự chậm trễ do nhiều thủ tục rườm rà và ôm đồm của Trung ương.

g – Cần xét lại môi trường kinh tế mô nhất là lãi suất tiền tiết kiệm quá cao, cao hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân và khả năng trả cổ tức của nhiều doanh nghiệp chưa khuyến khích cổ phần hóa.

h – Cần xây dựng những thể chế thích hợp cho phép mua bán các cổ phần để tạo ra sự trao đổi các cổ phần cũng như tạo ra sự đánh giá khách quan của thị trường đối với các doanh nghiệp.

i – Cần mở rộng cổ phần hóa các ngành và qui mô ngày càng rộng lớn hơn, đặc biệt trong sản xuất và tài chính tiền tệ nhằm tạo ra và chi phối cho được thị trường vốn làm tiền đề xây dựng và làm chủ thị trường chứng khoán sắp tới.

j – Tăng cường cán bộ có năng lực vào các đơn vị cổ phần hóa là yếu tố quyết định thành bại cổ phần hóa.

k – Nhà nước cần có qui chế thúc đẩy cổ phần hóa nhanh hơn và vững chắc hơn, phải đảm bảo 3 nguyên tắc: tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi.

3. Vận dụng CNTBNN dưới hình thức hợp tác xã

a – Dựa trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, cùng có lợi để tổ chức lại các loại hình hợp tác phù hợp với quy luật kinh tế thị trường theo định hướng XHCN từ nội thành đến ngoại thành ở các ngành TTCN, giao thông vận tải, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ…

b – Thông qua hình thức hợp tác mà huy động, tập hợp hàng triệu các tầng lớp tiểu thủ, tiểu thương ở thành thị và hàng triệu tiểu nông ở nông thôn đi vào quĩ đạo quản lý của Nhà nước. tạo thành lực lượng kinh tế xã hội rộng lớn, thành chỗ dựa vô cùng quan trọng của nhà nước XHCN, tạo thành mặt trận liên minh công-nông trong điều kiện mới.

c – Đồng thời thông qua kinh tế HTX góp phần khắc phục những khuyết tật của cơ chế thị trường như: Khắc phục tình trạng cạnh tranh vô tội vạ theo dạng “cá lớn nuốt cá bé”, xây dựng cuộc sống có tình người hơn; khắc phục tình trạng phân hóa giàu nghèo, tạo điều kiện cho người lao động cải thiện được cuộc sống ngày càng tốt hơn, làm cho xã hội ngày càng công bằng hơn; Khắc phục tệ nạn đầu cơ thao túng chèn ép người lao động của cơ chế thị trường; Tạo ra sức đề kháng chống lại khuynh hướng chạy theo lợi nhuận đơn thuần điều hòa được yếu tố kinh tế xã hội trong quá trình sản xuất kinh doanh.

d – Khi vận dụng hình thức này trong điều kiện mới,cần phải đổi mới quan niệm kiểu hợp tác xã trong thời kỳ tập trung bao cấp về hình thức sở hữu, phương thức quản lý và phân phối tương tự xí nghiệp quốc doanh. Phải coi nó chỉ là những tổ chức, những hình thức kinh tế hợp tác trong những lĩnh vực, công đoạn nhất định của quá trình tái sản xuất xã hội giữa những người tiểu chủ, tiểu thương, tiểu nông…

4. Công ty cổ phần, trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân dưới sự quản lý của nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân lao động

a – Hiện nay, ở thành phố Hồ Chí Minh, các doanh nghiệp của người Hoa giữ vị trí hết sức quan trọng. Bởi vậy, theo chúng tôi tinh thần chung là ta phải quản lý và sử dụng cho được lực lượng tư sản người Hoa trở thành thực lực của nền kinh tế thành phố làm lực lượng đối trọng, đối tác với tư bản bên ngoài. Để làm được điều này cần phải:

– Quán triệt đầy đủ quan điểm của Đảng về vị trí người Hoa trong cộng đồng dân tộc VN, trong chế độ XHCN. Đảm bảo cho người Hoa được hưởng mọi nghĩa vụ và quyền lợi công dân VN, tôn trọng văn hóa, chữ viết, tạo điều kiện để bà con yên tâm làm ăn, góp phần xây dựng đất nước. Xây dựng tình đoàn kết chan hòa giữa người Hoa và các dân tộc Việt Nam.

– Phát huy khả năng, tiềm năng kinh tế của người Hoa, góp phần thực hiện định hướng chiến lược phát triển kinh tế xã hội thành phố. Khuyến khích các nhà công thương người Hoa đầu tư phát triển công nghiệp, nông nghiệp và cơ sở hạ tầng. Khuyến khích người Hoa thu hút đầu tư của nước ngoài thông qua mối quan hệ thân nhân bằng nhiều hình thức liên doanh, hợp tác, kiều hối… theo luật pháp Việt Nam [2].

– Nghiên cứu tạo điều kiện để một số cơ sở công thương nghiệp của người Hoa mở rộng thành các công ty cổ phần hoặc các tập đoàn có nhiều tiềm năng lớn và phong phú gồm nhiều loại hình sở hữu mang tính chất kinh tế CNTBNN. Trên cơ sở đó từng bước đưa vốn doanh nghiệp nhà nước vào các công ty cổ phần, các tập đoàn, đặc biệt là các ngân hàng thương mại cổ phần.

– Tăng cường kiểm tra giám sát chặt chẽ vừa tạo điều kiện cho tư bản tư nhân người Hoa hoạt động đúng hướng, vừa ngăn chặn tình trạng đầu cơ lũng đoạn, đầu tư chui từ bên ngoài để nhằm thao túng lũng đoạn thị trường.

– Phải thành lập tổ chức Đảng và các đoàn thể trong các tổ chức kinh tế người Hoa đảm bảo hướng họ đi theo con đường XHCN. Bên cạnh đó, Nhà nước cần dào tạo một đội ngũ cán bộ quản lý KHKT người Hoa.

– Củng cố tăng cường ban công tác người Hoa để làm tham mưu tốt cho Đảng trong công tác Hoa vận, vừa tham mưu cho chính quyền quản lý nhà nước về kinh tế xã hội của người Hoa, tập trung ở các quận 5, 11, 6, 8 và quận 10 có đông bà con người Hoa.

b – Ngành nào tư nhân làm có hiệu quả hơn quốc doanh thì chuyển cho tư nhân. Ngoài việc khuyến khích tư nhân đầu tư mới, cần giải quyết số 30% DNQD đã thua lỗ từ lâu, không có khả năng phục hồi, bằng cách bán lại cơ xưởng máy móc cho tư nhân. Những ngành nghề nào chỉ đòi hỏi vốn nhỏ (doanh nghiệp nhỏ và trung bình) thì cũng nhường cho tư nhân, có thể tổ chức các xí nghiệp tư nhân làm vệ tinh gia công cho các doanh nghiệp quốc doanh lớn. Cho phép tư nhân được sản xuất kinh doanh trên các ngành công nghiệp, thương nghiệp, xuất khẩu, ngân hàng… ngoại trừ lãnh vực quốc phòng, an ninh, hay mặt hàng then chốt nhà nước phải độc quyền sản xuất kinh doanh. Nói chung là họ được quyền làm những gì mà nhà nước không cấm trên cơ sở có qui hoạch và kế hoạch nhà nước để ngăn tình trạng phát triển tự phát và tiêu cực. Huy động năng lực kinh tế tư nhân đi vào sản xuất đổi mới thiết bị và công nghệ tiên tiến, cơ sở hạ tầng trên cơ sở khuyến khích họ huy động vốn thông qua kiều hối (vàng, ngoại tệ, nguyên liệu…) Nhà nước cần cho phép tư bản tư doanh cùng với kinh tế quốc doanh làm thí điểm xây dựng khu công nghiệp tập trung sản xuất hàng tiêu dùng và xuất khẩu trên cơ sở huy động vốn trong nước và ngoài nước.

– Về qui mô phát triển là không hạn chế, họ có thể phát triển ở qui mô lớn trong phạm vi ngành nghề mà luật pháp nhà nước cho phép và được tồn tại lâu dài. Cho phép xây dựng các tập đoàn kinh tế tư nhân chuyên ngành hay tổng hợp. Phải cho tư bản tư nhân phát triển theo quĩ đạo quản lý của nhà nước nhằm biến họ thành lực lượng kinh tế có khả năng đối đầu, cạnh tranh với tư bản nước ngoài.

– Cần quan tâm đến tổ chức Đảng và đoàn thể ở các cơ sở kinh tế tư bản tư doanh và phương thức thích hợp. Củng cố lại Hiệp Hội công thương thành phố nhằm đảm bảo giúp nhau thực hiện tốt mọi chủ trương chính sách của nhà nước và đảm bảo nguyện vọng chính đáng của nhà tư bản tư doanh. Đồng thời xây dựng Đảng trong Hiệp Hội công thương, nhằm tạo điều kiện lãnh đạo trực tiếp tổ chức này [1+3].

Để phát triển đúng mức thành phần này, thành phố cần:

– Áp dụng đúng mức luật khuyến khích đầu tư trong nước, luật công ty và luật kinh tế tư nhân.

– Sử dụng chính sách thuế hợp lý, công bằng theo nguyên tắc nơi nào nhà nước khuyến khích tư nhân đầu tư nơi đó có chính sách miễn giảm thuế và chính sách tín dụng ưu đãi.

– Thành lập quỹ bảo trợ các doanh nghiệp ngoài quốc doanh để đề phòng rủi ro.

– Cần đưa vốn nhà nước vào các công ty cổ phần, công ty tư nhân có qui mô lớn.

– Khi cần, trên một số ngành nghề quan trọng và cần thiết nên bố trí Đảng viên, Đoàn viên có đầy đủ năng lực phẩm chất đi vào trong các doanh nghiệp tư nhân tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh để có khả năng định hướng lĩnh vực này đi vào quỹ đạo XHCN.

5. Có chính sách khuyến khích người VN định cư ở nước ngoài về đầu tư cả vốn và chất xám

Tính chung trong 100 nước mà kiều bào ta định cư khắp các lục địa, đội ngũ trí thức có trên 300.000 người tốt nghiệp Đại học và trên đại học trong tổng số hơn 2 triệu kiều bào. Bên cạnh đội ngũ trí thức này còn có hơn 100.000 công nhân kỹ thuật lành nghề sử dụng thành thạo các thiết bị hiện đại nhất. Tài năng của họ biểu hiện toàn diện cả về văn hóa, khoa học kỹ thuật, sản xuất kinh doanh, quản lý v.v… đã góp công sức đáng kể trong kháng chiến và trong giai đoạn xây dựng đất nước. Tiềm lực về trí tuệ rất đặc sắc và khả năng kinh tế khá phong phú. Năm 1990, đã có trên 50 công ty Việt kiều hoạt động, hiện nay đã lên tới con số hàng trăm công ty kinh doanh và dịch vụ. Để thực hiện CNTBNN có hiệu quả, Đảng và Nhà nước cần có chính sách động viên và chọn lọc một số trí thức Việt Kiều, một số cán bộ kỹ thuật lành nghề về nước để tham gia vào các tổ chức kinh tế KHKT hoặc hành chánh, các công ty liên doanh nước ngoài, các viện nghiên cứu, các tổ chức tư vấn chính phủ, v.v… đồng thời có chính sách khuyến khích họ nỗ lực đóng góp công sức trong khi họ đang còn ở nước ngoài. Phải xóa bỏ mọi phân biệt đối xử, mọi thành kiến để tập hợp đại bộ phận kiều bào góp công xây dựng quốc gia. Đây là lực lượng vô cùng quan trọng nên cần phải có luật riêng đối với đối tượng này để tận dụng tiềm lực của họ đầy đủ hơn. Coi đây là một quốc sách lớn [46].

6. Sử dụng nhiều hình thức TBNN để đầu tư phát triển nông nghiệp (tô nhượng, liên doanh, hợp tác 100% vốn nước ngoài, cổ phần và hợp tác xã)

Hiện nay, khu vực quốc doanh nông nghiệp sử dụng 19,7% quỹ đất đai, 1,8% nguồn lao động 32% máy kéo lớn hàng năm sản xuất 0,79% sản lượng lúa, 49% sản lượng chè búp tươi, 23,7% sản lượng cà phê, 90,2% sản lượng cao su và 2% giá trị sản lượng nông nghiệp. Như vậy 98% giá trị tổng sản lượng nông nghiệp là do kinh tế ngoài quốc doanh sản xuất, chủ yếu là kinh tế hộ gia đình.

Đảng ta đã chủ trương tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp đưa nông nghiệp lên thành mặt trận hàng đầu của nền kinh tế. Bởi vậy, cần phải đầu tư đúng mức cho nông nghiệp về vốn, khoa học và kỹ thuật; Xây dựng cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh cho nông nghiệp: Giao thông, hệ thống thủy lợi, điện, nước, bưu điện viễn thông…; Đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật và cán bộ quản lý giỏi cho nông nghiệp; Xây dựng các nông trại và các tập đoàn kinh tế lớn về nông nghiệp như tập đoàn sản xuất kinh doanh lương thực, tập đoàn sản xuất kinh doanh cây công nghiệp v.v…. Có chính sách bảo hộ nông sản. Và có chính sách giá cả lương thực hợp lý để khuyến khích nông nghiệp. Có làm tốt những điều trên mới tạo môi trường thu hút đầu tư trong và ngoài nước cho nông nghiệp.

– Có chính sách vận động người nước ngoài và trong nước, trong đó có cả bà con người Việt định cư ở nước ngoài bỏ vốn đầu tư phát triển các vùng trọng điểm nông nghiệp nhất là cơ sở hạ tầng nông thôn. Đẩy mạnh hình thức nông dân gia công cho các doanh nghiệp quốc doanh như nông dân nuôi bò sữa cho Vinamilk hay gia công cung cấp nguyên liệu cho các doanh nghiệp quốc doanh hoặc doanh nghiệp trong khu chế xuất.

– Việc liên kết giữa khu chế xuất, khu công nghiệp với nông nghiệp thành phố và khu vực là một trong những phương thức, giải pháp quan trọng nhằm góp phần công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn.

B – Phát huy vai trò của đội ngũ trí thức

– Kinh nghiệm một số nước phát triển việc đào tạo đội ngũ trí thức là yếu tố quyết định cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đối với nước ta vấn đề đặt ra là làm thế nào tập hợp được lực lượng trí thức để thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh”, thông qua áp dụng CNTBNN để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển đất nước. Để thực hiện có hiệu quả các hình thức của CNTBNN phục vụ sự nghiệp nói trên vai trò của đội ngũ trí thức rất quan trọng.

1. Về tình hình trí thức

Theo thống kê của Ban Khoa Giáo TW gần đây cho biết đã có 700 ngàn trí thức đang lao động trên mọi lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và công nghệ. Riêng thành phố Hồ Chí Minh có 50 ngàn bằng 1/6 cả nước, tăng 2,5 lần so với trước giải phóng (20000) được đào tạo từ 30 nước trên thế giới, 75% độ tuổi 40 trở xuống. Trong đó chỉ có 5,43% người có bằng thạc sĩ trở lên, 10,4% cán bộ giảng dạy hoặc nghiên cứu. Chúng ta còn thiếu nhiều cán bộ tài năng trong đó rất thiếu cán bộ giỏi về kinh tế, quản lý kinh tế (doanh nghiệp, tài chính, ngân hàng).

2. Biện pháp huy động lực lượng trí thức

Để vận dụng thành công CNTBNN, yếu tố quyết định trước hết là lực lượng cán bộ ra đối tác và hợp tác, đầu tư, liên doanh, cán bộ quản lý kinh tế, người làm kinh tế đối ngoại. Lực lượng cán bộ đó phải là đội ngũ trí thức có khả năng và bản lĩnh ngang tầm với nhiệm vụ mới. Ta hiện chưa có trường lớp đào tạo ra loại cán bộ này như kinh nghiệm các nước đã làm. Ta đang sử dụng một cách máy móc bộ máy và cán bộ cũ quen cơ chế hành chánh quan liêu bao cấp để thực hiện chủ trương đường lối đổi mới đây là nhược điểm lớn nhất mà ta cần khắc phục nhanh chóng. Nhưng điều quan trọng là ta thiếu chính sách để phát huy và thu hút nhân tài. Thời Nguyễn Trãi đã có nhận định rất chính xác về cán bộ: “Đất nước có lúc thịnh, lúc suy, nhưng anh hùng hào kiệt thì đời nào cũng có “(Bình Ngô Đại Cáo). Huống hồ hiện nay ta lại thiếu nhân tài sao? Trong một thời gian dài, do thiếu chính sách cần thiết nên chúng ta thu hút nhân tài rất hạn chế mà người giỏi ở thành phố do chế độ cũ để lại có hàng vạn chuyên gia, trí thức, cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật công nhân lành nghề bỏ đi nước ngoài. Ngay cả người giỏi đang làm cho các doanh nghiệp nhà nước hay quản lý nhà nước lần lượt bỏ đi làm ăn bên ngoài vì không chịu nổi “đồng lương quá khiêm tốn” của nhà nước (chưa kể đến trong đối xử còn nhiều định kiến hẹp hòi). Điều này, đã làm cho tình trạng thiếu cán bộ lại càng thiếu hơn. Để khắc phục tình trạng này, một mặt phải đào tạo lại đội ngũ cán bộ sẵn có để phù hợp với xu thế phát triển, mặt khác mở trường lớp, đổi mới chương trình đào tạo thích nghi với hoàn cảnh mới. Nhưng đồng thời phải có chính sách đặc biệt để phát huy và lôi cuốn nhân tài (cả người Việt Nam định cư ở nước ngoài) chú trọng cả hai mặt: thu nhập tương xứng với tài năng và đối xử công bằng, trọng dụng nhân tài, đánh giá sử dụng đúng tài năng của từng người, biết tin dùng người tài. Trước hết ta cần thu hút nhân tài trong nước để tạo điều kiện thu hút nhân tài bên ngoài. Tránh xu hướng vọng ngoại mà xem nhẹ việc đề ra chính sách thu dụng nhân tài trong nước. Đồng thời có chính sách phù hợp để thu dụng nhân tài từ người Việt Nam định cư ở nước ngoài về giúp nước dưới nhiều hình thức. Phải mở rộng cửa đón nhân tài thì mới có điều kiện thực hiện thành công chủ trương đổi mới mở cửa.

Lịch sử đã từng chứng minh người lãnh đạo giỏi là người dám và biết sử dụng nhiều người khác tài giỏi hơn mình. Với chính sách đó, ta mới thu hút đông đảo người tài ra giúp nước. Việc sử dụng chuyên gia bên ngoài chủ yếu là ta học tập kinh nghiệm học cái hay “cái khôn” của họ (bởi họ cũng có những cái không hay), nhưng khi áp dụng thì không rập khuôn máy móc, mà phải căn cứ vào thực tiễn, vào hoàn cảnh đặc thù của nước ta mà chọn lọc sử dụng những kinh nghiệm hay có lợi cho đất nước. Để sử dụng tốt chuyên gia tư bản, cần phải có đội chuyên gia của ta đủ năng lực và đủ bản lĩnh để tiếp cận với họ. Cho nên muốn thu hút chuyên gia bên ngoài tất yếu phải tập trung cho được đội ngũ chuyên gia bên trong và phát huy đúng mức vai trò của họ. Việc mời giảng viên nước ngoài hoặc cử cán bộ, sinh viên đi đào tạo chuyên gia ở nước ngoài là cần thiết nhưng phải có quy chế chặt chẽ để quản lý, không để tình trạng tự phát như hiện nay sẽ dẫn đến hậu quả không lường… [28].

C – Giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập chủ quyền dân tộc và sự hợp tác liên kết quốc tế vừa là nguyên tắc, vừa là yếu tố cực kỳ quan trọng đảm bảo thành công trong sự nghiệp đổi mới, trong việc vận dụng học thuyết Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về CNTBNN

1. Quan điểm chung

Đa phương hóa, đa dạng hóa trong quan hệ đối ngoại; Hợp tác trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi và tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau.

– Muốn độc lập tự chủ thì nền kinh tế phải phát triển. Nhưng muốn nền kinh tế phát triển vững chắc phải dựa trên nền tảng độc lập tự chủ và phát triển theo định hướng XHCN. Thực hiện được mối quan hệ này có nghĩa rằng ta vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về “Độc Lập Dân Tộc và CNXH”. Muốn phát triển kinh tế theo định hướng XHCN: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh thì phải trên nền tảng độc lập tự chủ. Giữa độc lập dân tộc và CNXH hòa quyện vào nhau tạo nên sức mạnh to lớn để đưa đất nước ta vươn lên trong thời kỳ mới nhằm thực hiện lời căn dặn của Người: “Tôi chỉ có một ham muốn tột bậc, là làm sao nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành:. CNTBNN là con đường để thực hiện thắng lợi tư tưởng của Người.

2. Hợp tác liên kết kinh tế trên cơ sở bảo vệ chủ quyền dân tộc là như thế nào?

– Phải có chiến lược và sách lược kinh tế đối ngoại đúng đắn với phương châm vững vàng về chiến lược và mềm dẻo về sách lược.

– Trong hợp tác liên kết muốn giải quyết được tốt phải thông qua: Chủ trương chính sách và cơ chế quản lý phù hợp; Chọn đối tác đúng; Hợp đồng kinh tế chặt chẽ; Điều lệ đầy đủ, rõ ràng; Quy chế cụ thể; Có nguyên tắc xử lý các bất đồng trong tranh chấp; Thực hiện chế độ kiểm tra nghiêm ngặt.

– Luật lệ trong hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung, trong việc áp dụng các hình thức của CNTBNN để thu hút vốn đầu tư của tư bản nước ngoài nói riêng phải đầy đủ, chặt chẽ, cụ thể. Gắn việc thực hiện luật pháp Việt Nam với luật pháp và thông lệ tập quán quốc tế mà vẫn giữ được bản sắc dân tộc. Trong đó phải lấy luật lệ VN làm cơ sở chủ yếu trong mọi xử lý.

– Nắm bắt cho được bí quyết về công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến.

– Phải có lực lượng cán bộ đủ mạnh trong đối tác với tiêu chuẩn: Có lập trường quan điểm phẩm chất chính trị vững vàng trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại; Có bản lĩnh trong quan hệ đối ngoại; Thích nghi với mọi công việc, mọi đối tượng về kinh tế đối ngoại; Có kiến thức và có tầm nhìn rộng về kinh tế đối ngoại. Nắm bắt được chiến lược kinh tế đối ngoại trong và ngoài nước. Đồng thời am hiểu về những nguyên tắc áp dụng các hình thức, biện pháp của CNTBNN trong hoạt động kinh tế nói chung, kinh tế đối ngoại nói riêng; Biết làm việc với các nhà tư bản của từng nước trên tinh thần giữ vững nguyên tắc độc lập tự chủ, nhưng phải biết mềm dẻo linh hoạt trong từng tình huống, hình thức và đối tác cụ thể; Am hiểu về nghiệp vụ và pháp luật kinh tế đối ngoại; Có phong cách đối ngoại tốt và có khả năng ngoại ngữ nhất định trong giao tiếp; Cởi mở trong giao tiếp nhưng phải chặt chẽ trong sinh hoạt; Muốn có đội ngũ cán bộ này phải có chiến lược giáo dục phù hợp, có kế hoạch đào tạo trong và ngoài nước.

– Các cán bộ phân công phía liên doanh Việt Nam, phải đoàn kết thống nhất trên dưới một lòng. Khi đàm phán với phía đối tác, phía Việt Nam cần có một tiếng nói thống nhất. Cần có sự quản lý của nhà nước tập trung và có hiệu lực kinh tế đối ngoại; Đảm bảo điều hành phối hợp đồng bộ giữa các ngành, các cấp liên quan nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp về kinh tế đối ngoại nói chung, thu hút đầu tư nước ngoài nói riêng theo nguyên tắc: “dịch vụ một cửa”. Đồng thời phải có sự lãnh đạo chỉ đạo chặt chẽ của Đảng và phát huy tác dụng vai trò đoàn thể trên cơ sở xây dựng và bố trí lực lượng đủ mạnh, đề ra nội dung và phương thức hoạt động của Đảng và đoàn thể phù hợp với từng hoàn cảnh, từng đối tượng khác nhau trên nguyên tắc đảm bảo chủ quyền quốc gia, đảm bảo hài hòa lợi ích nhà nước, người lao động và chủ đầu tư.

– Cần phải đảm bảo bí mật quốc gia: phải rạch ròi giữa công việc đối nội và đối ngoại khi quan hệ với đối tác nước ngoài. Không để nhập nhằng bí mật nội bộ, bí mật quốc gia và những công việc công khai trong giao dịch với nhà đầu . Trong hợp tác kinh tế không được kèm theo bất cứ điều kiện chính trị nào. Mở rộng sự liên kết kinh tế mở rộng nền kinh tế thị trường phải vừa chú trọng tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại vừa bảo tồn truyền thống văn hóa dân tộc [59+60].

D – Tạo môi trường thuận lợi cho CNTBNN phát triển

1- Môi trường kinh tế

a) Cơ sở hạ tầng đảm bảo là môi trường tốt để thu hút đầu tư

Khi đề cập đến việc xây dựng cơ sở hạ tầng mà chủ yếu để phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất ta không tách rời thành phố Hồ Chí Minh mà phải đặt nó trong tổng thể chung của dự án phát triển của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (VKT TDPN). Riêng thành phố Hồ Chí Minh cần quan tâm đến: qui hoạch chung toàn vùng.

Những vấn đề quan tâm cụ thể như sau:

– Sớm hoàn thành đường xa lộ Bắc Nhà Bè, Nam Bình Chánh góp phần trực tiếp phát triển khu chế xuất, khu công nghiệp và vùng kinh tế Nam Sài Gòn, sửa chữa, xây mới một số cầu bảo đảm lưu thông từ nội thành qua Thủ Thiêm để phát triển vùng kinh tế mới ở khu vực này và cầu nối liền nội thành với vùng kinh tế Nam Sài Gòn.

Về cảng: Ngoài việc nâng cấp các cảng có sẵn sẽ xây dựng Cảng phục vụ trực tiếp khu chế xuất và xây dựng cảng ở sông Soài Rạp cho tàu trọng tải 50 đến 100 ngàn tấn vào ra thông thương. Bên cạnh đó có kế hoạch nạo vét giải tỏa khai thông các tuyến đường sông từ Sài Gòn đi các tỉnh miền Tây đã từ lâu bị dân cư lấn chiếm làm thu hẹp diện tích và cạn lòng sông, đảm bảo lưu thông hàng hóa thuận lợi giữa Sài Gòn và các tỉnh miền Tây.

– Về sân bay như qui hoạch chung nhưng riêng trong phạm vi sân bay cần xây dựng các kho ngoại quan đảm bảo lưu giữ và vận chuyển hàng hóa nguyên liệu kỹ thuật cao, nhất là điện tử bằng đường hàng không cho các doanh nghiệp khu chế xuất và khu công nghiệp. Ở các sân bay, cần trang bị các phương tiện kiểm tra hiện đại, đồng thời cải tiến đơn giản hóa thủ tục hải quan.

b) Điện nước

Việc đảm bảo đưa điện nước đến tận tường rào khu chế xuất, khu công nghiệp một cách đầy đủ và ổn định là yếu tố then chốt đảm bảo cho sản xuất phát triển… Cần sớm xây dựng nhà máy điện Hiệp Phước như tiến độ đã định nhằm đảm bảo cung cấp cho khu chế xuất và vùng kinh tế Nam Sài Gòn.

c) Về môi trường sinh thái

– Phải bắt buộc các doanh nghiệp khu chế xuất và khu công nghiệp tập trung thực hiện đúng tiêu chuẩn về môi trường sinh thái, vệ sinh công nghiệp ngay từ khâu thẩm định cấp phép đầu tư, cấp phép xây dựng và trước khi cấp phép vận hành: Nếu xí nghiệp nào không có phương án thực hiện tốt xử lý môi trường, thì chưa cấp phép hoạt động. Bắt buộc từng doanh nghiệp phải có hệ thống xử lý nước thải, xử lý môi trường và phải có hệ thống xử lý nước thải chung của toàn khu. Trong quản lý khu chế xuất, khu công nghiệp, quản lý môi trường, môi sinh, vệ sinh công nghiệp phải buộc nhà đầu tư thực hiện nghiêm túc ngay từ đầu. Coi đó là một vấn đề then chốt trong quản lý nhà nước. Phải chú trọng việc bảo vệ môi sinh môi trường ngay từ khâu ra qui chế nhập máy móc thiết bị, loại nào lạc hậu gây ô nhiễm dứt khoát không cho nhập vào.

Nhà nước cần tổ chức bộ máy cán bộ có đầy đủ năng lực và có các phương tiện cần thiết để kiểm soát môi trường mà chủ yếu quan tâm các khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung ngay từ đầu. Cần triển khai thật tốt luật bảo vệ môi trường trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

d) Giải quyết tốt mối quan hệ giữa lao động và thị trường, quan hệ chủ thợ là nhân tố góp phần thực hiện tốt CNTBNN

– Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần tất yếu sẽ dẫn đến việc hình thành ngày càng rộng lớn thị trường sức lao động. Ta thừa nhận sự tồn tại lâu dài của các hình thức thuê mướn lao động nhưng không cho phép nó biến thành một kiểu quan hệ thống trị như dưới chế độ TBCN. Trong cơ chế CNTBNN, tư bản không còn là tư bản thuần túy. Trong một mức độ nào đó, đây là tư bản hoạt động và phát triển một cách có tổ chức, chịu sự điều tiết từ trung tâm kinh tế của Nhà nước, thứ tư bản đã được thu hút vào hệ thống lãnh đạo có kế hoạch của Nhà nước, vào quỹ đạo XHCN. Song song với sản xuất tư bản, lao động làm thuê cũng xuất hiện những nhân tố mới. Mức bóc lột đã bị giới hạn. Thông qua luật lao động vừa được ban hành, trong một chừng mực nhất định Nhà nước có thể điều tiết tiền công thực tế. Công nhân các xí nghiệp TBNN có thể được hưởng một phần lãi của doanh nghiệp một cách gián tiếp, sau quá trình phân phối lại từ các quỹ tiêu dùng cho nhu cầu xã hội.

Ở đây việc giải quyết tốt mối quan hệ chủ thợ ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dưới nhiều hình thức khác nhau là yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển sản xuất. Muốn vậy, cần phải: Xây dựng sự hòa hợp đôi bên trên cơ sở luật pháp nhà nước, công ước và tập quán quốc tế; Bảo đảm được quyền lợi cơ bản của cả hai bên. Trong đó quyền lợi cơ bản của người lao động cần chú trọng như: Người lao động có quyền đòi hỏi được đãi ngộ hợp lý; Đòi hỏi nhà tư bản bảo đảm phúc lợi cho mình; Đòi hỏi môi trường làm việc được an toàn vệ sinh; Có quyền tham gia các tổ chức công đoàn; Có quyền tổ chức trao đổi ý kiến giữa người lao động và nhà đầu tư; Thúc đẩy việc tiến hành hội nghị thường xuyên trao đổi những vấn đề có liên quan. Xây dựng kênh giao lưu để trao đổi bàn bạc và khiếu nại trong các đơn vị sản xuất kinh doanh một cách dân chủ; Tăng cường giáo dục bồi dưỡng đạo đức nghề nghiệp cho người lao động. Đồng thời làm cho chủ đầu tư hiểu rõ và tôn trọng quyền công dân của người Việt Nam; Xây dựng một nhận thức chung: nhà đầu tư và người lao động cùng hỗ trợ nhau trên lập trường bình đẳng cùng có lợi; Xử lý một cách công bằng những tranh chấp giữa nhà đầu tư và người lao động.

– Quốc hội, Chính phủ cần ban hành đầy đủ và chi tiết các văn bản luật và dưới luật về doanh nghiệp thuộc khu chế xuất doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong đó qui định rõ những lợi ích, những nghĩa vụ và những quyền hạn của chủ và thợ. Ban quản lý các khu chế xuất và bộ phận quản lý từng khu chế xuất với tư cách là những tổ chức làm chức năng quản lý nhà nước phải làm tốt những chức năng quản lý của mình trên cơ sở quán triệt các văn bản dưới luật, luật nói trên. Xây dựng công đoàn trong mỗi doanh nghiệp và công đoàn trong cả khu chế xuất để cùng phối hợp với ban quản lý khu chế xuất thực hiện [61].

Ngoài ra môi trường kinh tế còn có thị trường đất đai, thị trường tài chính tiền tệ đã đề cập ở phần trên.

2 – Môi trường luật pháp

Luật pháp là một trong những yếu tố quan trọng để thu hút đầu tư nước ngoài, là công cụ vừa để thực hiện chính sách mở cửa vừa để quản lý nền kinh tế trên cơ sở phát huy những mặt tích cực vừa hạn chế những mặt tiêu cực của cơ chế thị trường. Kể từ khi có luật đầu tư nước ngoài, luật công ty và luật kinh tế tư nhân và gần đây có luật đầu tư trong nước đã thu hút tốt vốn đầu tư trong và ngoài nước. Tuy nhiên luật pháp của nước ta chưa toàn diện và chưa cụ thể để xảy ra tình trạng không nhất quán, không đồng bộ. Cùng một điều luật mỗi người lại có thể giải thích mỗi kiểu khác nhau, thậm chí những quy định cụ thể trái với luật đã đề ra, nên đã làm ảnh hưởng không tốt cho môi trường đầu tư, hạn chế kích thích thu hút đầu tư cả trong và ngoài nước. Vì vậy để hòa nhập với nền kinh tế khu vực và quốc tế ta cần phải tiếp tục cải cách luật pháp là vấn đề trọng tâm hàng đầu. Mặt khác phải quản lý nền kinh tế bằng luật pháp và phải quản lý một cách nghiêm ngặt để làm nền tảng cho giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa để đảm bảo vận dụng đúng đắn Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước.

Ở đây, cần phải đề ra hệ thống luật pháp như thế nào cho vừa phù hợp với nguyện vọng nhân dân trên nguyên tắc do dân và vì dân, đảm bảo chủ quyền quốc gia, vừa thích nghi được với thông lệ luật pháp khu vực và quốc tế. Cho nên việc nghiên cứu về quản lý nhà nước và củng cố pháp quyền là vấn đề cực kỳ quan trọng. Ngoài việc nghiên cứu tìm hiểu hệ thống luật pháp, đương thời từng nước trong khu vực và quốc tế, nghiên cứu công pháp quốc tế hay thông lệ quốc tế, thì việc nghiên cứu quá trình lịch sử hình thành nền luật pháp của tổ tiên ta là rất cần thiết và quan trọng. Từ đó chúng ta có thể tìm ra trong lịch sử kinh nghiệm to lớn của quá khứ để lại, qua đó phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng thời khắc phục không để lặp lại những hạn chế của người xưa. Đặc biệt chú ý đến những kỹ thuật và nghệ thuật trị nước trị dân mà ông cha ta đã đạt được như chế độ công vụ, vấn đề đào tạo tuyển dụng người tài giỏi ra giúp nước bằng thi cử (thi hương, thi hội thi đình) để chọn cán bộ lãnh đạo, vấn đề sử dụng người tài, chính sách về kinh tế, nhất là chính sách mở cửa làm ăn với bên ngoài. Trên cơ sở đó đề ra luật pháp phù hợp với hoàn cảnh đất nước ta hiện nay không sao chép của người khác, trong đó có luật pháp về kinh tế đối ngoại, luật đầu tư trong và ngoài nước v.v…

Mấy đề nghị cụ thể để tạo môi trường luật pháp có sức thu hút lớn:

a) Pháp luật phải được hình thành kịp thời với công cuộc đổi mới để phục vụ cho chính sách đổi mới.

b) Pháp luật áp dụng cả đối tượng trong nước và cả người nước ngoài đến làm ăn đầu tư vào Việt Nam. Cho nên các văn bản pháp luật kinh tế đối ngoại và đối nội vừa phải xuất phát từ nhân tố bên trong (Đường lối chính sách, đặc điểm chính trị-kinh tế- xã hội, nguyện vọng nhân dân…) vừa phải tính đến các nhân tố bên ngoài (Pháp luật và thông lệ quốc tế).

c) Để đảm bảo uy tín quốc tế, pháp luật Việt Nam phải toàn diện, cụ thể và phải ổn định nhất quán trong quá trình đổi mới, theo hướng “mở” nhưng không sơ hở.

d) Việc xây dựng văn bản dưới luật cần phải kịp thời, đồng bộ và phải thống nhất, không được trái với hiến pháp và luật đã ban hành, đồng thời phải có kèm theo biện pháp chế tài mỗi khi có người vi phạm để đảm bảo tính hiệu lực và nghiêm minh.

e) Đề nghị đề ra luật pháp sắp tới phấn đấu thực hiện phương châm: “Cái gì nhà nước không cấm thì nhân dân được quyền làm và ngược lại”

3 – Giải quyết tốt mối quan hệ giữa văn hóa dân tộc và thị trường là yếu tố không thể thiếu được để tạo ra môi trường văn hóa thuận lợi lành mạnh trong quá trình vận dụng CNTBNN. Phải thừa nhận khách quan rằng, cơ chế thị trường đã có những tác động tích cực đến sự phát triển văn hóa. Nhờ cơ chế thị trường, người ta nắm bắt nhanh nhạy những nhu cầu văn hóa có thực của tầng lớp dân cư trong những thời điểm nhất định cũng như sự biến đổi của các nhu cầu này để tìm cách thỏa mãn chúng kịp thời và sát hợp. Nhờ cơ chế thị trường, chất xám thường được đánh giá tương đối đúng, giá cả của nó thường sát hợp với giá trị. Điều này đã kích thích tính tích cực năng động của lao động trí óc, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển các tài năng. Cơ chế thị trường tạo ra cạnh tranh và cạnh tranh đòi hỏi phát triển khoa học – kỹ thuật và áp dụng những sáng chế, phát minh vào sản xuất càng nhanh càng tốt, đã góp phần không nhỏ vào việc đẩy nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật, phát triển nhanh hơn nền giáo dục quốc dân với sự cải tiến không ngừng.

Mặt khác cơ chế thị trường cũng gây ra những trở ngại không nhỏ cho sự phát triển văn hóa:

– Tính tự phát cố hữu của thị trường gây ra những lãng phí cho xã hội kể cả những lãng phí trong lãnh vực văn hóa. Tính tự phát của thị trường, lòng ham lợi nhuận còn có thể dẫn tới khai thác tự nhiên bừa bãi phá hủy môi trường sống của con người. Cơ chế thị trường cũng khiến người ta thường chú ý đến những nhu cầu có khả năng thanh toán để từ đó mà có lợi nhuận. Thế nhưng toàn xã hội còn có những nhu cầu mà việc đáp ứng chúng không đem lại lợi nhuận. Ví dụ: Nền giáo dục quốc dân, sự nghiệp phát triển y tế, xây dựng hạ tầng cơ sở, đấu tranh chống các tệ nạn xã hội, thực hiện việc đảm bảo xã hội v.v… Nếu không đáp ứng các nhu cầu này xã hội không thể tồn tại và phát triển. Việc thỏa mãn các nhu cầu nói trên của xã hội cũng chính là một bộ phận cơ bản và quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, không chỉ chỉ phó thác cho cơ chế thị trường. Ở đây ngân sách nhà nước có vai trò hết sức quan trọng.

Để khắc phục mặt trái của cơ chế thị trường, cần phát huy hơn nữa sức mạnh và hiệu lực của pháp luật trong quản lý sự nghiệp xây dựng văn hóa. Nghiêm trị những hành vi phạm pháp kinh doanh và dịch vụ văn hóa (chú ý dịch vụ cho thuê băng hình). Kiên quyết chống tệ nạn cai đầu dài, khắc phục tư nhân làm đầu nậu, thao túng lãnh vực xuất bản. Nhà nước nắm và sử dụng tốt hơn nữa những công cụ tư tưởng, những phương tiện thông tin đại chúng, xuất bản v.v… Quản lý tốt và đầu tư đúng mức có trọng điểm cho ngành điện ảnh, chú trọng việc sản xuất băng hình Việt Nam nhiều hơn nữa.

E – Đổi mới hệ thống chính sách mô của nhà nước đối với CNTBNN

1. Chính sách đất đai

Từ khi hiến pháp cho phép tư nhân được sử dụng lâu dài đất đai, được quyền chuyển nhượng v.v…, đất đai ngày càng có giá trị và được sử dụng một cách có hiệu quả. Việc Nhà nước ban hành luật đất đai và phát triển nhà ở là một bước phát triển đáng kể, nhưng tổ chức thực hiện còn nhiều vướng mắc, nên một thời gian đã gây nhiều ách tắc. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất nhất là đất nông nghiệp, tình hình lấn chiếm đất xây dựng, kinh doanh nhà cửa trái phép đặc biệt là ở các thành phố lớn, đang phát sinh nhiều tiêu cực và thất thu ngân sách rất lớn cho nhà nước.

Đối với nước ngoài, ta cho họ thuê đất từ 50 năm và có thể gia hạn nhưng không quá 70 năm, gây phấn khởi tin tưởng cho các nhà đầu tư. Tuy nhiên, để phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất phải trên cơ sở có quy hoạch chiến lược sử dụng đất đai về lâu dài. Chú trọng chuyển các doanh nghiệp gây ô nhiễm vào các khu công nghiệp ởngoại thành vừa để tránh áp lực gia tăng dân số nội thành vừa tránh được ô nhiễm môi trường thành phố, vừa tận dụng được sức lao động ngày càng dôi thừa ở nông thôn do xu thế công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Vì vậy phải có chính sách giải tỏa đền bù hợp lý để tận dụng đất đai ở ngoại thành nhất là vùng đất có năng suất thấp về sản xuất nông nghiệp. Về giá cả đất đai, phải điều chỉnh hợp lý như đã trình bày ở phần trên. Mặt khác nhà nước phải hết sức quan tâm chống đầu cơ về đất đai do tư bản nước ngoài thông qua trung gian thực hiện việc mua bán đất đai, bất động sản một cách trái phép.

Để quản lý được đất đai, trong trường hợp giao quyền sử dụng hay cho thuê đất đều phải xác định đúng quyền sử dụng đất đai và nhà nước cần có quy chế đảm bảo sử dụng đất đai đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả. Ở nông thôn giữ được đất cho sản xuất lương thực thực phẩm nhất là lúa, ở thành thị sử dụng đất đúng quy hoạch. Nhà nước phải kiên quyết xử lý những trường hợp chiếm dụng đất trái phép.

Riêng chính sách đất đai đối với nông thôn cần mạnh dạn thực hiện chính sách khoán hay cho nông dân thuê lâu dài để tạo điều kiện phát triển kinh tế hàng hóa, kinh tế hộ gia đình và kinh tế hợp tác. Để công nghiệp hóa nông nghiệp, nhà nước cần chấp nhận khi cần thiết tập trung đất đai qui mô lớn để hình thành nông trại thì mới đi vào sản xuất lớn được, nhất là các vùng trồng cây công nghiệp cao, chè, café v.v… với nhiều hình thức quốc doanh, tư nhân, hợp tác xã, cả liên doanh hợp tác với nước ngoài. Trong đó chú trọng vận dụng CNTBNN thông qua hình thức tô nhượng.

2. Chính sách đầu tư

So với các nước xung quanh, về môi trướng đầu tư và giá cả đất đai Việt Nam còn kém hấp dẫn. Việt Nam chúng ta đang chịu một áp lực cạnh tranh rất lớn đối với các nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Vì vậy, phải không ngừng cải tiến chính sách thu hút đầu tư để tăng sức hấp dẫn với nhà đầu tư. Để thực hiện tốt điều này xin có mấy đề nghị cụ thể:

Nhà nước và các địa phương cần hoàn chỉnh việc quy hoạch khu vực, địa điểm để gọi vốn đầu tư trong và ngoài nước theo ngành nghề quy mô lớn nhỏ. Trong quy hoạch cần hết sức lưu ý chọn địa điểm xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất đảm bảo an toàn về môi trường. Tính toán có trọng tâm, trọng điểm, không làm ồ ạt theo dạng phong trào, nhất là việc quy hoạch, phát triển khu công nghiệp phải tính kỹ đến yếu tố khả thi của từng công trình, hay chọn lựa đối tác v.v… Cần có định hướng cụ thể cho chương trình dài hạn thu hút đầu tư vào một số lĩnh vực ngành nghề quan trọng để thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Những ngành ta đang cần đầu tư với vốn lớn cho nhiều năm sau: Xây dựng đường cao tốc, sân bay quốc tế, hệ thống cảng biển, cầu lớn, các nhà máy điện v.v… Quy định công nghệ nào cho phép đầu tư ngắn hạn hay dài hạn và ở quy mô nào? Lĩnh vực nào, ngành nào cần được quy định giá trị đầu tư tối thiểu v.v…

Bên cạnh các công trình phát triển tập trung vừa nêu, chính phủ cần đề ra chương trình quốc gia về phát triển công nghiệp vừa và nhỏ, trên cơ sở có chính sách huy động các thành phần kinh tế tham gia nhằm góp phần chuyển từ nền kinh tế tự túc, tự cấp sang nền kinh tế hàng hóa,nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Nhà nước cần lập quỹ bảo trợ cho chương trình này. Đồng thời thiết lập hệ thống tổ chức thực hiện xuyên suốt từ trung ương xuống địa phương đặc biệt chú trọng mở rộng hình thức này ở vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn để thu hút lực lượng lao động tại chỗ.

Đơn giản hóa quy trình thủ tục xét duyệt, thẩm định các dự án đầu tư theo cơ chế một cửa nhằm rút ngắn thời gian cấp phép, giảm phiền hà cho nhà đầu tư. Vừa qua, chính phủ có ban hành quy định về quy chế hình thành, thẩm định và thực hiện dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài theo NĐ số 191/CP ngày 28/12/1994. Nhưng cho đến nay vẫn còn thực hiện chậm, nhất là thủ tục cấp đất. Gần đây, thành phố có phát động nhân dân góp ý xây dựng chính quyền thì vấn đề thủ tục phiền hà là vấn đề nhân dân bức xúc nhất. Chấp hành NĐ 191/CP thành phố đã thực hiện thủ tục cấp phép một cửa cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước, nhưng trong thực tế thủ tục vẫn còn quá nhiêu khê và có khi còn chậm hơn “nhiều cửa”. Nguyên nhân là cải tiến thủ tục hành chánh trong khi vẫn còn nguyên bộ máy hành chính quá cồng kềnh, nhiều tầng, nhiều nấc, không rõ địa chỉ trách nhiệm, cán bộ lại ít tuân thủ luật pháp. Tệ tham nhũng, tham ô, buôn lậu nảy sinh ngay trong bộ máy nhà nước [57].

Vì vậy, để cải tiến thủ tục hành chính có hiệu quả, trong đó có thủ tục cấp phép, vấn đề then chốt là phải cải tiến ngay bộ máy hành chính cồng kềnh, quan liêu và thay đổi ngay những cán bộ bảo thủ, trì trệ, tham nhũng, kém năng lực. Đồng thời quy định về quản lý hoạt động của các dự án sau giấy phép đầu tư còn ôm đồm, rườm rà, cần cải tiến phân công cho địa phương quản lý sau giấy phép là phù hợp hơn.

– Khung giá cho thuê đất ở các vùng kinh tế trọng điểm ngày càng được đô thị hóa cần xem xét chỉ nên qui định giá tối thiểu mà không nên qui định giá tối đa, để cho các doanh nghiệp trong nước thuận lợi trong việc thỏa thuận với đối tác nước ngoài. Bởi vì, hình thức liên doanh đến nay vẫn chiếm phần lớn (khoảng 70%) về dự án và vốn đầu tư, phía trong nước chủ yếu góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo thời hạn liên doanh hoặc thêm phần nhà xưởng, thiết bị hiện có, trả tiền thuê đất cho nhà nước hàng năm và thường chiếm tỷ lệ thấp trong liên doanh (bình quân 30% vốn liên doanh).

Quy định bắt buộc về giám định máy móc, thiết bị, vật tư nhập khẩu góp vốn liên doanh kết hợp chặt chẽ với công tác kiểm toán trong một số lĩnh vực ngành nghề cần thiết, giám định từ quốc gia xuất khẩu hay sau khi xây dựng, lắp ráp đảm bảo còn giá trị sử dụng 80% trở lên. Điểm này vừa qua Việt Nam còn nhiều sơ hở, nên bị nhiều nhà đầu tư lợi dụng, định giá tùy tiện.

– Đối với đầu tư trong nước, phải thực hiện tốt luật khuyến khích đầu tư trong nước và không ngừng hoàn thiện bổ sung cho phù hợp nhằm phát huy tối đa tiềm lực của nhân dân, nhất là khắc phục tình trạng không cân bằng giữa chính sách đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước. Vì theo các nhà đầu tư trong nước cho rằng chính sách đầu tư nước ngoài có nhiều ưu đãi hơn chính sách đầu tư trong nước. Đồng thời không nên phân biệt đối xử giữa quốc doanh và ngoài quốc doanh để tạo điều kiện phát triển nền kinh tế nhiều thành phần một cách mạnh mẽ tạo nội lực cho nền kinh tế quốc gia.

Sử dụng các hình thức CNTBNN là biện pháp chủ yếu để thu hút đầu tư cả trong và ngoài nước. Kinh nghiệm các nước muốn có vốn lớn để đầu tư, nhất là đầu tư cơ sở hạ tầng người ta dựa vào nguồn tài chính do trái phiếu. Trái phiếu vừa đem lại cho đầu tư lợi tức ổn định, ít rủi ro hơn cả. Trái phiếu lại có thể bán được trước đáo hạn nên ngân hàng rất thuận lợi vì có thể bán được trái phiếu vào bất cứ lúc nào, không phải như các khoản cho vay. Trái phiếu còn tạo điều kiện tài trợ cho các dự án lâu dài và được Chính phủ đảm bảo. Bên cạnh xây dựng thị trường chứng khoán nói chung. Việt Nam cần xây dựng thị trường trái phiếu để đầu tư cho các công trình sản xuất qui mô và cơ sở hạ tầng.

3. Chính sách thuế

Thuế là công cụ quản lý nhà nước nhằm tạo ra nguồn thu ngân sách quốc gia cả trước mắt và lâu dài. Điều quan trọng hơn, thuế là đòn bẩy kinh tế để thúc đẩy nền kinh tế xã hội phát triển. Cho nên ta phải vừa tính toán cân đối thu chi trước mắt và chú trọng hỗ trợ để tạo ra nguồn thu lâu dài. Vì vậy phải đổi mới chính sách thuế theo hướng đơn giản hóa mọi thủ tục, mức thuế ổn định, hợp lý, để tạo nguồn thu ngân sách vừa tạo điều kiện cho nhà đầu tư cả trong và ngoài nước có khả năng tái đầu tư để phát triển. Hiện nay do mức thuế không hợp lý nên nhiều nhà đầu tư cả trong và ngoài nước buộc lòng phải trốn thuế (ngoại trừ kẻ cố tình) thì làm ăn mới có lời. Nên nhà nước vừa thất thu, vừa tạo ra tình trạng trốn thuế, lậu thuế ảnh hưởng đến nhân cách của các nhà doanh nghiệp và nạn tham nhũng có cơ hội phát triển. Cần mạnh dạn thực hiện chính sách miễn giảm thuế, định mức thuế hợp lý đối với ngành nghề chính phủ khuyến khích và mức thuế cao ở ngành mà chính phủ không khuyến khích, trong đó có hàng ngoại nhập để bảo vệ sản xuất trong nước, xử phạt nặng kẻ cố tình trốn thuế. Vấn đề quyết định phải là trong sạch bộ máy cán bộ của ngành thuế nói riêng và tài chính nói chung, tăng cường hiệu lực hoạt động của ngành tài chính, thuế. Cần khuyến khích chuyển dịch các cơ sở sản xuất đến những nơi kém phát triển bằng chính sách miễn giảm thuế với nguyên tắc là làm sao cho người đầu tư làm ăn phải có lãi. Vì vậy có khi 5, 10, 20 năm đầu miễn thuế hoàn toàn đến khi nào họ làm ăn có lãi ta mới đánh thuế. Làm được việc này, ta vừa phát triển được kinh tế, vừa giải quyết công ăn việc làm, vừa giải quyết được tình trạng mất cân đối về kinh tế và đời sống giữa các vùng trên toàn lãnh thổ quốc gia. Kinh nghiệm của Trung Quốc về điểm này đáng để cho chúng ta nghiên cứu. Các doanh nghiệp từ vùng duyên hải phát triển chuyển dần vào nội địa kém phát triển hơn, sản phẩm vẫn tiếp tục đứng vững trên thị trường, vẫn tạo được lợi nhuận cho người đầu tư, nền kinh tế xã hội phát triển mà hàng ngàn năm trước luôn luôn nghèo đói [58].

4. Chính sách xuất nhập khẩu

Cần đổi mới chính sách và cơ chế quản lý xuất nhập khẩu, cụ thể là:

– Mạnh dạn mở rộng buôn bán, làm ăn với thị trường quốc tế và từng nước trên nguyên tắc thực hiện thận trọng phù hợp với điều kiện hoàn cảnh nước ta, trên cơ sở bảo vệ độc lập, tự chủ, lợi ích quốc gia.

– Cần xóa bỏ ở diện rộng chế độ cấp phép xuất khẩu (trừ một số trường hợp đặc biệt) và thay bằng chế độ kê khai hải quan.

– Kiểm soát chặt chẽ hàng nhập khẩu, các sản phẩm là đối tượng của chính sách bảo hộ mậu dịch cần hạn chế nhập siêu bằng biện pháp thuế quan và phi thuế quan. Đồng thời từng bước mở rộng hàng rào thuế quan và phi thuế quan đối với sản phẩm cần khuyến khích.

– Vừa phải thực hiện triệt để chính sách bảo hộ mậu dịch có trọng tâm trọng điểm về mặt hành chính. Đồng thời về mặt kinh tế Việt Nam phải sản xuất nhiều sản phẩm có sức cạnh tranh tốt ở thị trường trong và ngoài nước.

– Phấn đấu trong những năm tới cân bằng được cán cân ngoại thương và xuất siêu và nếu như trước mắt ta còn nhập siêu một thời gian thì phải đảm bảo có hiệu quả.

– Tích cực chuẩn bị mọi điều kiện tham gia Tổ chức mậu dịch thế giới (WTO) hiện có 117 quốc gia tham gia hiệp định này. Tích cực đổi mới chính sách, cơ chế quản lý, luật pháp cho phù hợp với quy định của WTO, đồng thời với việc gia nhập AFTA (ASEAN) mà căn bản vẫn giữ được tự chủ về kinh tế.

– Sử dụng các hình thức CNTBNN như liên doanh, hợp tác nhằm phát triển hoạt động xuất nhập khẩu. Thí điểm xây dựng tập đoàn kinh doanh xuất nhập khẩu. Thực hiện chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng, thành lập quỹ bảo hiểm xuất khẩu nhất là mặt hàng xuất khẩu chủ lực.

– Tích cực cải tổ các cơ quan thương vụ ở nước ngoài để làm đầu mối trong tiếp thị, lôi cuốn đầu tư và kinh doanh xuất khẩu, Kiện toàn tổ chức cán bộ và nâng cao năng lực quản lý của cơ quan thương mại từ trung ương xuống địa phương [5].

F- Đổi mới hệ thống chính trị phù hợp với đổi mới cơ chế quản lý, chính sách kinh tế mới là yếu tố quyết định vận dụng thành công CNTBNN

1. Xây dựng nhà nước XHCN vững mạnh trong sạch một nhân tố quyết định thành công của CNTBNN.

Trong giai đoạn xây dựng CNXH, tuy hệ thống Nhà nước chúng ta còn nhiều nhược điểm do tồn căn của cơ chế hành chánh quan liêu bao cấp để lại, nhưng phải công tâm mà thừa nhận rằng chưa bao giờ Nhà nước ta mạnh và giành nhiều thành quả to lớn như bây giờ. Dưới sự lãnh đạo vững vàng và sáng suốt của Đảng, trong 10 năm qua Nhà nước ta đã tiến hành thực hiện đường lối chủ trương đổi mới mở cửa đầy sáng tạo, đúng hướng và tạo nên thành quả có tính chiến lược làm đà rất thuận lợi cho những năm tiếp theo mà NQĐH7, NQ Hội nghị giữa nhiệm kỳ và NQĐH8 đã đánh giá.

Muốn xây dựng Nhà nước vững mạnh trong sạch, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trước tình hình mới thì Nhà nước phải có khả năng:

– Trước hết Nhà nước phải giỏi về chiến lược bao gồm kế hoạch, lựa chọn và tổ chức thực hiện chiến lược có hiệu quả nhất.

– Ứng biến một cách mềm dẻo: “phải thích ứng mau lẹ với biến đổi”, “Biết nghiên cứu một cách chính xác phạm vi của hiện tượng và tìm ra những biện pháp thích đáng để điều tiết”.

– Bộ máy Nhà nước vững mạnh là bộ máy cứng rắn: Lênin xác định CNTB Nhà nước “là cuộc chiến tranh kinh tế”, “Dù sự điều tiết ấy có thành công hoàn toàn chăng nữa thì sự đối lập về lợi ích giai cấp của người lao động và chủ tư bản nhất định vẫn còn tồn tại”.

– Sức mạnh của bộ máy Nhà nước là sức mạnh kinh tế: Lênin đã từng khẳng định: “Nếu hàng hóa trong tay các đồng chí thì các đồng chí sẽ giữ vững được chính quyền”. Nhà nước mạnh là Nhà nước không quan liêu áp đặt mà phải là Nhà nước biết kích thích bằng các tác nhân kinh tế, biết khơi dậy mọi tiềm năng bằng một hệ thống chính sách kinh tế phù hợp.

– Phát triển các thành phần kinh tế trên cơ sở kinh tế quốc doanh làm chủ đạo để tạo ra sức mạnh kinh tế.

– Trong điều kiện kinh tế thị trường sức mạnh Nhà nước tập trung ở sức mạnh tài chính, thuế, giá cả và tiền tệ chúng vừa là công cụ để điều tiết quản lý nền kinh tế vừa là đòn bẩy kích thích nền kinh tế phát triển. Mà vai trò đòn bẩy kinh tế là chủ yếu. Nhà nước nào làm được điều này mới là Nhà nước mạnh.

– Sức mạnh Nhà nước còn thể hiện ở chỗ “Biết dùng bàn tay của người khác để cùng với mình xây dựng CNCS” đó là đòi hỏi bản lĩnh mới của Nhà nước.

– Cần nhanh chóng thiết lập đầy đủ các cơ chế của kinh tế hàng hóa. Xây dựng các điều kiện về kết cấu hạ tầng thông tin, dịch vụ v.v…

– Hoàn chỉnh các luật và các văn bản dưới luật tạo nên toàn bộ hệ thống Nhà nước quán triệt và có thói quen nói và làm theo luật. Ban hành luật hành chính, tòa án hành chính, quy chế công vụ và tổ chức thực hiện một cách có hiệu quả.

– Kiên quyết và triệt để chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch rõ: “Tham ô, lãng phí, quan liêu là thứ giặc ở trong lòng”…”quan liêu là nói cán bộ, chứ đồng bào có quan liêu với ai đâu… Còn tham ô thì cũng thường do mấy cán bộ có chức có quyền lợi dụng mà tham ô” (Bài nói chuyện với cán bộ và nhân dân Hà Bắc 9-2-1967) Người còn căn dặn: “Phong trào chống tham ô, lãng phí, quan liêu ắt phải dựa vào lực lượng quần chúng mới thành công”.

– Sắp xếp tổ chức cán bộ quản lý Nhà nước theo hướng tinh gọn trọng chất hơn lượng và có chính sách thu dụng nhân tài. Đây là nhân tố quyết định sức mạnh của Nhà nước.

– Tích cực cải tiến thủ tục hành chính tiến tới từng bước cải tổ nền hành chính quốc gia. Đặc biệt thực hiện chế độ quản lý một cửa. Đó là giải pháp làm cho bộ máy Nhà nước mạnh lên, đồng thời là điều kiện tốt để đẩy lùi và bài trừ tệ tham nhũng.

– Cải tiến chế độ tiền lương phù hợp nền kinh tế mới tạo điều kiện cho mọi công chức phải gắn bó thực sự với công việc của mình.

– Phải có trường đào tạo công chức để đào tạo một đội ngũ viên chức, cán bộ chuyên môn nghiệp vụ giỏi am hiểu kinh tế thị trường, có nghiệp vụ quản lý và phẩm chất chính trị vững vàng.

2. Đổi mới công tác dân vận trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần là yếu tố quan trọng thúc đẩy thành công trong việc vận dụng CNTBNN

– Nhà nước đề ra chủ trương chính sách hợp lòng dân từ đó mà động viên thành phong trào quần chúng hưởng ứng sự nghiệp đổi mới nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh không ngừng nâng cao đời sống nhân dân.

– Các đoàn thể phải đổi mới tư duy và phương thức vận động quần chúng nhất là quan tâm xây dựng lực lượng quần chúng ở các công ty doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài, các công ty doanh nghiệp trong khu chế xuất khu công nghiệp tập trung v.v… nhất là phát huy đúng mức vai trò công đoàn.

– Từng bước mở rộng quan hệ quốc tế của các đoàn thể để rút kinh nghiệm về công tác vận động quần chúng trong nền kinh tế thị trường. Đổi mới đội ngũ cán bộ công tác dân vận thích nghi với tình hình mới. Tăng cường số lượng và chất lượng các phương tiện thông tin đại chúng của đoàn thể. Phải có chương trình nghiên cứu khoa học về công tác dân vận. Đảng phải đổi mới phương thức lãnh đạo của mình đối với công tác vận động quần chúng, tôn trọng tính độc lập của các đoàn thể.

3. Đổi mới công tác Đảng phù hợp với nền kinh tế mới là yếu tố quyết định căn bản đảm bảo sử dụng CNTBNN thành công

Đảng lãnh đạo thông qua các chủ trương đường lối đúng đắn như xây dựng chiến lược kinh tế xã hội. Đảng lãnh đạo toàn xã hội thông qua bộ máy Nhà nước: Quốc hội, Chính phủ, trên cơ sở bố trí cán bộ Đảng đóng vai trò chủ chốt trong bộ máy quản lý nhà nước. Quan tâm xây dựng Đảng trong các hình thức tổ chức TBNN: Công ty liên doanh, khu chế xuất, khu công nghiệp. Kiện toàn tổ chức Đảng thích hợp với nền kinh tế thị trường và chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ Đảng thích ứng với tình hình mới.

Điểm mấu chốt của công tác xây dựng Đảng vững mạnh là phải giải quyết mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng, ngăn ngừa bệnh đáng sợ của Đảng cầm quyền là bệnh quan liêu xa rời quần chúng cốt cán của mình. Trong điều kiện mới Đảng mạnh còn là phải đổi mới tư duy và năng lực để lãnh đạo có hiệu quả nền kinh tế thị trường thông qua hệ thống quản lý nhà nước [54].

G. Tăng cường đào tạo bồi dưỡng và sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ và công nhân có trình độ cao

Chúng ta biết rằng, mọi sự thành bại của công cuộc cách mạng, công cuộc xây dựng CNXH, cũng như đối với quá trình vận dụng CNTBNN để tiến lên CNXH, tùy thuộc có tính chất quyết định quan trọng ở đội ngũ cán bộ và công nhân có năng lực trình độ nhiều hay ít. Đồng thời nó còn tùy thuộc vào đội ngũ ấy sẽ được đào tạo, sử dụng và phát huy vai trò của họ như thế nào trong từng lĩnh vực hoạt động, trong từng đơn vị, từng công việc cụ thể. Vì vậy, giải pháp cuối cùng nhưng hết sức quan trọng, để phát triển hơn nữa CNTBNN ở thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới là tăng cường đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ và công nhân có trình độ cao.

Đánh giá về tiềm lực mặt mạnh của lao động Việt Nam qua quá trình đào tạo và phát huy ta có thể khẳng định lao động Việt Nam không thiếu thông minh, mà chỉ thiếu điều kiện, phương tiện, chính sách cần thiết để phát triển trí thông minh đó. Tuy nhiên thời gian vừa qua do thiếu điều kiện và chính sách cần thiết nên bên cạnh mặt mạnh đã bộc bộ những mặt yếu cần quan tâm khắc phục để việc chuẩn bị nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đạt kết quả cao nhất.

Ở thành phố Hồ Chí Minh, Liên đoàn Lao động thành phố qua khảo sát tay nghề công nhân cho biết: công nhân trong khu vực quốc doanh có trình độ tay nghề từ bậc 3 trở xuống chiếm gần 80%. Như vậy công nhân lành nghề quá thiếu. Một điều tra khác ở 550 doanh nghiệp nhà nước và 600 doanh nghiệp tư nhân cho thấy khoảng 80-85% lao động lành nghề trong khu vực tư nhân ở thành phố là từ quốc doanh chuyển sang, còn các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tỷ lệ này là 70%. Cuộc điều tra trên còn cho thấy: công nhân kỹ thuật khu vực doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ lệ 19,68%, ở khu vực tư nhân 34,7%, còn cán bộ quản lý có trình độ đại học ở khu vực doanh nghiệp nhà nước chiếm 36% và tỷ lệ này ở khu vực tư nhân là 50,9%. Nếu nhà nước không tập trung đào tạo đội ngũ công nhân lành nghề, công nhân kỹ thuật có tay nghề cao, do thúc bách sản xuất, các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ thu hút ngày càng tăng số cán bộ kỹ thuật của doanh nghiệp nhà nước. Đó là nguy cơ làm cho các doanh nghiệp nhà nước sẽ hoạt động yếu kém, sa sút.

Để khắc phục thực trạng vừa thừa vừa thiếu nhất là thiếu cán bộ kỹ thuật và cán bộ quản lý vừa nêu trên, chúng tôi xin đề nghị:

– Khuyến khích sự chuyển giao công nghệ qua các chuyên gia nước ngoài đang làm việc tại Việt Nam. Một khi doanh nghiệp đã đi vào hoạt động có nề nếp, số lượng chuyên gia sẽ được thay thế dần bởi cán bộ trong nước và đã được huấn luyện để đảm trách chức vụ chuyên môn đó.

– Cần cải tổ lại chương trình đào tạo, mục tiêu đào tạo gắn liền với xu hướng phát triển KTXH và phải phục vụ sát sườn yêu cầu của nền kinh tế thị trường, không nên để tình trạng đào tạo một đằng, nơi sản xuất kinh doanh lại yêu cầu một ngả, nhất là đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

– Có chính sách khuyến khích cho các viên chức phấn đấu học tập để nhằm đáp ứng tiêu chuẩn nhà nước dặt ra cho từng tính chất công tác khác nhau. Có kế hoạch đào tạo lại triệt để viên chức nhà nước. Khuyến khích các hoạt động tư vấn của công ty nước ngoài.

– Có chính sách đãi ngộ thỏa đáng, nhất là chế độ tiền lương, thu nhập đối với công nhân giỏi, công nhân bậc cao và đặt họ đúng vị trí để họ có cơ hội phát huy và cống hiến tài năng của họ cho đất nước.

– Có kế hoạch đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ đại học và trên đại học kể cả trong nước và nước ngoài, đảm bảo giỏi về chuyên môn, thông thạo ngoại ngữ, có phẩm chất chính trị đạo đức và năng lực quản lý đảm bảo thực hiện nhiệm vụ trong giai đoạn mới, nhất là lãnh vực kinh tế đối ngoại, hợp tác đầu tư với nước ngoài và các hình thức CNTBNN khác:

Để thực hiện những mục tiêu trên cần phải:

+ Tăng thêm ngân sách quốc gia đủ sức cho công tác giáo dục đào tạo từ 20% trở lên và lập quĩ quốc gia về chính sách nhân lực. Sắp xếp các cơ sở đào tạo để nâng cao hiệu quả sử dụng nhân lực và thiết bị cơ sở vật chất. Đổi mới cơ sở vật chất phục vụ cho đào tạo. Xây dựng một số trung tâm bồi dưỡng và đào tạo nhân lực chất lượng cao. Đổi mới đội ngũ giáo viên dạy nghề đạt trình độ quốc tế.

+ Mở rộng và nâng cao chất lượng hệ đào tạo tại chức, các hình thức đào tạo không chính quy, đào tạo lại, đa dạng hóa các hình thức đào tạo.

+ Phát động xã hội lập quỹ hỗ trợ tài năng trẻ, qui mô rộng lớn hơn nữa nhất là con em nhà nghèo, gia đình có công với cách mạng, gia đình liệt sĩ v.v… hiếu học nhưng lại gặp khó khăn. Kể cả tài trợ du học nước ngoài. Đồng thời xã hội hóa nền giáo dục và đào tạo coi đây là chiến lược hết sức cần thiết và quan trọng nhằm mở lối ra cho nền giáo dục.

+ Mở rộng việc hợp tác với các nước phát triển cả các nước trong khối ASEAN trong việc giáo dục và đào tạo với nhu cầu khác nhau theo nhiều hình thức trong đó đặc biệt coi trọng hình thức du học tại chỗ kết hợp chặt chẽ với việc tổ chức đưa đi du học nước ngoài hoặc bán du học do nhà nước tài trợ và du học tự túc (toàn phần hoặc bán phần). Tất cả đều đặt dưới sự hướng dẫn và quản lý chặt chẽ của Bộ giáo dục và đào tạo không để tự phát như hiện nay để trong tương lai chúng ta có một đội ngũ trí thức, chuyên gia đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s