Phần thứ hai

HỌC THUYẾT LÊNIN VỀ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NHÀ NƯỚC TRONG MỘT NƯỚC ĐANG QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI & SỰ THỰC HIỆN CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NHÀ NƯỚC Ở LIÊN XÔ DƯỚI THỜI LÊNIN & Ở MỘT SỐ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA KHÁC

 

 

Chương III
Quan niệm của Lênin về Chủ nghĩa
Tư bản Nhà nước trong một nước
đang quá độ lên chủ nghĩa xã hội

1. Lý luận của Lênin về bản chất và tính tất yếu của Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước trong một nước đang quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Không phải ngay từ đầu lý luận về Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước của Lênin đã hoàn chỉnh và có thể áp dụng có hiệu quả vào thực tiễn, mà phải trải qua nhiều giai đoạn phát triển và bổ sung. Sự hình thành tư tưởng về CNTBNN của Người đã có từ trước khi giành chính quyền, trước khi Cách mạng tháng Mười Nga thành công ít lâu. Trong tác phẩm “Tai họa sắp đến và những phương pháp ngăn ngừa tai họa đó” [7,258] V.I Lênin đã nêu ra sự cần thiết phải áp dụng những biện pháp kiểm kê, kiểm soát nhằm chống lại sự đầu cơ của bọn đầu sỏ tư bản, bọn tư bản chóp bu lũng đoạn nền kinh tế tư bản chủ nghĩa (TBCN). Ở đây V.I Lênin đã phát triển nhiều nguyên lý quan trọng về CNTB độc quyền Nhà nước trong mối quan hệ với cách mạng xã hội chủ nghĩa (XHCN).

Năm 1918, sau khi Cách mạng tháng 10 thành công, Lênin cho rằng Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước chỉ là sản phẩm của đấu tranh chính trị, là sự nhượng bộ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động đối với giai cấp tư sản khi Nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân lao động không tiêu diệt họ, mà sử dụng họ như những chuyên gia kinh tế-kỹ thuật và quản lý, khoản thù lao trả cho họ được coi là học phí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

Sau ba năm thực hiện “chính sách cộng sản thời chiến” vì điều kiện chiến tranh và để cứu nguy cho nền kinh tế khỏi sụp đổ, Lênin đã nhạy cảm nhận thấy rằng, đó không phải là một chính sách phù hợp với giai đoạn mới, mà chỉ là giải pháp tạm thời để cứu nguy cho chính quyền Xô viết. Vì vậy, mùa xuân 1921, Người đã đề ra chính sách kinh tế mới (NEP) mà thực chất là chuyển từ biện pháp Nhà nước trực tiếp tổ chức theo kiểu cộng sản chủ nghĩa thời chiến việc sản xuất và phân phối sản phẩm sang nền kinh tế hàng hóa, tăng cường liên minh kinh tế chặt chẽ giữa giai cấp công nhân và nông dân thông qua việc sử dụng rộng rãi quan hệ hàng hóa tiền tệ và thực hiện CNTBNN. Lúc này, quan niệm của Lênin về Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước đã khác trước rất nhiều. Lênin cho rằng Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước là một bộ phận kinh tế tồn tại thực sự trong nền chuyên chính vô sản. Bởi vậy, thời kỳ này trong chính sách của mình, Lênin đã thừa nhận sự hiện diện của giai cấp Cu-lắc ở nông thôn, giai cấp tư sản ở thành thị và thừa nhận sự trao đổi tự do các sản phẩm của nông dân sau khi họ đã làm tròn nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước.

Đến năm 1922 Lênin cho rằng phải xem Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước như là một đường lối chiến lược trong phát triển kinh tế của thời kỳ quá độ tiến lên CNXH, bởi vì:

Trước hết là, xuất phát từ trình độ phát triển còn thấp của nền kinh tế khi bước vào thời kỳ quá độ. Những điều kiện đó chưa cho phép tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, lên các quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, tức là chưa cho phép thiết lập ngay các quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa như là hình thức kinh tế chủ yếu trong nền kinh tế quốc dân.

– Hai là, trong điều kiện nền kinh tế sản xuất nhỏ thì sự phát triển tư bản chủ nghĩa, như “một tất yếu không thể tránh khỏi và cần thiết”, “cái chủ nghĩa tư bản đó là xấu so với chủ nghĩa xã hội, nhưng nó lại là tốt so với thời trung cổ, với nền tiểu sản xuất, với chủ nghĩa quan liêu do tình trạng phân tán của người tiểu sản xuất gây nên. Vì chúng ta chưa có điều kiện để chuyển trực tiếp từ nền tiểu sản xuất lên chủ nghĩa xã hội, bởi vậy trong một chừng mực nào đó, chủ nghĩa tư bản là không tránh khỏi… Bởi vậy chúng ta phải sử dụng chủ nghĩa tư bản (nhất là bằng cách hướng nó vào Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước) làm mắt xích trung gian giữa nền tiểu sản xuất và chủ nghĩa xã hội: làm phương tiện, con đường, phương thức để tăng lực lượng sản xuất lên” [9,276]. Hơn nữa trong điều kiện chính quyền nằm trong tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động, và nền chuyên chính đó được đảm bảo bởi sự liên minh giữa giai cấp công nhân với quần chúng lao động tiểu tư hữu (trước hết là nông dân), thì có thể bằng con đường của Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước (nhà nước ở đây là Nhà nước xã hội chủ nghĩa) mà đi lên chủ nghĩa xã hội. Lênin đánh giá cao tính quá độ hiện thực của Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước. Người cho rằng chỉ cần trong điều kiện một Nhà nước “dân chủ – cách mạng” thực sự, chưa phải là chuyên chính của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, tức là một nhà nước dùng biện pháp cách mạng để thủ tiêu mọi đặc quyền, một Nhà nước không sợ dùng biện pháp cách mạng để thực hiện một chế độ dân chủ nhất thì “chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà nước là sự chuẩn bị vật chất đầy đủ nhất cho chủ nghĩa xã hội, là nấc thang lịch sử mà giữa nó (nấc thang đó) với nấc thang được gọi là chủ nghĩa xã hội thì không có một nấc thang nào ở giữa cả” [7,258].

Đó là thời kỳ quá độ đặc biệt. Đặc biệt ở chỗ “nó không chỉ là thời kỳ quá độ từ một hình thái kinh tế-xã hội cũ sang một hình thái kinh tế-xã hội mới, mà còn là thời kỳ tạo ra điều kiện vật chất thực sự cho sự quá độ lên hình thái mới”. “Những bước trung gian”, “những nấc thang phát triển trung gian” trước CNXH được xây dựng trên cơ sở của chính nó.

V.I. Lênin quan niệm rằng, CNTBNN là điều kiện tốt để nâng cao trình độ quản lý của chính quyền Xô viết. Lênin kêu gọi và đặt ra nhiệm vụ cho những người cộng sản, hãy học tập phương pháp, cách thức, hình thức mà các “tờ rớt” tư bản chủ nghĩa đã sử dụng để tổ chức liên kết hàng vạn, hàng triệu người xung quanh những tổ chức kinh tế qui mô lớn. Những phương pháp, phương thức như vậy chúng ta có thể tìm tòi, học hỏi ở bất cứ một nước tư bản chủ nghĩa nào. Nếu chúng ta ra sức học tập, dốc hết sức mà “bắt chước” nó, thì từ các đỉnh cao công nghiệp, từ các đỉnh cao kinh tế chúng ta có thể tổ chức được nền kinh tế quốc dân.

Lênin viết: “không có kỹ thuật đại công nghiệp tư bản được xây dựng trên những phát minh mới nhất của khoa học hiện đại, không có một tổ chức Nhà nước có kế hoạch khiến cho hàng triệu người phải tuân theo hết sức nghiêm ngặt một tiêu chuẩn thống nhất trong công việc sản xuất và phân phối sản phẩm, thì không thể nói đến chủ nghĩa xã hội được… Đồng thời nếu không có sự thống trị của giai cấp vô sản trong Nhà nước thì cũng không thể nói đến chủ nghĩa xã hội được, đó cũng là một điều sơ đẳng” [9,253].

Mục đích của việc chủ động nhượng bộ giai cấp tư sản về mặt kinh tế là thành lập một liên minh kinh tế, một dạng thỏa hiệp với họ và khi ấy chính quyền công nhân thu được nhiều cái lợi. Bảo tồn được tư liệu sản xuất và cơ cấu quản lý sản xuất đã hình thành, sử dụng được năng lực của các chuyên gia tư bản. Đặc biệt, trong một nước mà sản xuất nhỏ chiếm ưu thế thì cái lợi lớn hơn cả là trên cơ sở sử dụng lợi ích tư hữu tư bản chủ nghĩa như một động lực, phát triển được ngay lập tức nền sản xuất theo hướng sản xuất lớn, tập trung, dưới sự kiểm soát của Nhà nước chống lại sự hỗn loạn tiểu tư sản.

Tiền đề tổ chức Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước là chế độ kiểm kê, kiểm soát của toàn dân đối với sản xuất và phân phối sản phẩm. Không có kiểm kê và kiểm soát thì Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước sẽ trở thành thứ chủ nghĩa tư bản thông thường, nghĩa là chủ nghĩa tư bản đầu cơ, chạy theo lợi nhuận một cách vô tội vạ. Lênin viết: “Không có chế độ kế toán và kiểm soát trong công việc sản xuất và phân phối sản phẩm, thì những mầm mống của chủ nghĩa xã hội sẽ bị tiêu diệt” [8,225].

Thực hiện chính sách Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước cũng có nghĩa là phải thẳng tay trấn áp loại tư bản không chịu sự kiểm soát của Nhà nước, loại bỏ tư bản đầu cơ, ăn cắp, gian lận, đồng thời phải ủng hộ loại tư sản văn minh “có kỷ luật”, “làm ăn chính đáng” – Nghĩa là ủng hộ loại tư bản tuân thủ sự kiểm soát của Nhà nước. Lênin cũng nhấn mạnh rằng đứng về phương diện kinh doanh mà xét, thì không thể phân biệt được đầu cơ với buôn bán “chính đáng”. Vì vậy, trong vấn đề này Nhà nước vô sản phải nhìn nhận từ phương diện pháp luật, phải quản lý bằng pháp luật và quản lý một cách hết sức nghiêm ngặt. “Phải duyệt lại và sửa đổi tất cả các luật lệ về đầu cơ, phải tuyên bố rằng mọi hành vi ăn cắp, mọi mưu toan trực tiếp hoặc gián tiếp công khai hoặc lén lút, lẩn tránh sự kiểm tra giám sát, sự kiểm kê của Nhà nước, đều bị trừng phạt (và thực tế phải trừng trị nghiêm khắc gấp 3 lần trước đây). Chính có đặt vấn đề như vậy… chúng ta mới hướng được sự phát triển của chủ nghĩa tư bản – một sự phát triển không tránh được, và trong một chừng mực nào đó là cần thiết – đi vào con đường CNTBNN” [9,285].

Hình thành trong mối quan hệ tương tác giữa thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa với các thành phần kinh tế khác, Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước là một hình thức giải quyết mâu thuẫn cơ bản của nền kinh tế quá độ giữa hệ thống sản xuất mới đang hình thành và quan hệ sản xuất cũ đã mất địa vị thống trị nhưng chưa bị đánh bại hẳn. Một mặt, Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước là hình thức kinh tế thỏa mãn được lợi ích tư hữu của các chủ sản xuất hàng hóa – mà lợi ích tư hữu này là động lực phát triển vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế thời kỳ quá độ; mặt khác, Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước phục vụ đắc lực cho thành phần kinh tế khác. Vì vậy, Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước trên thực tế là sự chuẩn bị để mở rộng hệ thống kinh tế có kế hoạch và do vậy là hình thức chung sống giữa các thành phần kinh tế “đáng mong muốn nhất đối chủ nghĩa xã hội”.

Nhưng vai trò của Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước không phải dừng lại ở đó. Trong điều kiện một nền kinh tế kém phát triển thì sự hình thành Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước còn là một phương thức giải quyết mâu thuẫn giữa hệ thống quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa đang hình thành và cơ sở vật chất là nền sản xuất nhỏ không phù hợp với nó. Cơ sở vật chất của hệ thống tổ chức sản xuất có kế hoạch trên qui mô toàn xã hội chỉ có thể là nền đại công nghiệp. Khi chưa có cơ sở vật chất này – tức là chưa có điều kiện vật chất cần thiết cho việc hợp nhất mọi quá trình sản xuất riêng biệt vào một quá trình sản xuất xã hội chung, thì khi ấy lãnh đạo có kế hoạch nền kinh tế còn mang tính hình thức, áp dặt.

Mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất mới và cơ sở vật chất kém phát triển chỉ có thể được giải quyết bằng cách phát triển sản xuất lớn. Ở đây Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước là công cụ đắc lực để huy động sức người, sức của từ các thành phần kinh tế khác nhau cho sản xuất lớn. Lênin cho rằng vì mục đích phát triển ngay lập tức lực lượng sản xuất xã hội, có thể sử dụng cả chủ nghĩa tư bản tư nhân chứ chưa nói gì đến Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước – Vừa tăng nguồn vốn ngân sách Nhà nước, vừa tăng tích lũy trực tiếp để phát triển cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội.

Lênin khẳng định: “Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước là một bước tiến to lớn dù cho chúng ta phải trả một khoản lớn hiện nay. Bởi vì trả học phí là một việc đáng giá, vì cái đó có lợi cho công nhân, vì việc để chiến thắng tình trạng hỗn độn, tình trạng suy sụp về kinh tế và hiện tượng lỏng lẻo là cái quan trọng hơn hết, vì việc để tình trạng vô chính phủ của những kẻ tiểu tư hữu tiếp tục tồn tại là một mối nguy cơ lớn nhất, đáng sợ nhất, nó sẽ làm chúng ta diệt vong, nếu chúng ta không chiến thắng nó một cách dứt khoát, còn một khoản lớn cho Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước thì điều ấy không những không làm cho chúng ta diệt vong, trái lại sẽ đưa chúng ta đến chủ nghĩa xã hội bằng con đường chắc chắn nhất” [9,251-252].

Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản do Nhà nước XHCN kiểm soát và điều khiển có thể đẩy nhanh sự phát triển nền nông nghiệp. Nhờ việc tăng nhanh lực lượng sản xuất trong nông nghiệp mà ổn định xã hội thoát khỏi khủng hoảng, củng cố sự tín nhiệm của nông dân với chính quyền Xô viết.

Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước còn được gọi là công cụ đấu tranh chống chủ nghĩa quan liêu và những lệch lạc quan liêu chủ nghĩa. Khi nói tới chính sách kinh tế mới, Lênin đề cập tới nhiệm vụ đấu tranh chống chủ nghĩa quan liêu và tác phong lề mề. Lênin phân tích nguồn gốc kinh tế của chủ nghĩa quan liêu ở Nga là tình trạng riêng lẻ, tình trạng phân tán của người sản xuất nhỏ, cảnh khốn cùng của họ, tình trạng dốt nát của họ, tình trạng không có đường sá, nạn mù chữ, tình trạng không có sự trao đổi giữa công nghiệp và nông nghiệp.

Thông qua chủ nghĩa tư bản và Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước, giai cấp công nhân và nhân dân lao động có thể học tập được cách quản lý một nền sản xuất lớn, tổ chức được một nền sản xuất lớn Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước thông qua sự du nhập của tư bản từ bên ngoài là hình thức du nhập tiến bộ kỹ thuật hiện đại. Đồng thời Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước mang lại cái lợi là thông qua phát triển nó phục hồi được giai cấp công nhân hiện đại. Nếu Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước được lợi thế thì sản xuất công nghiệp cũng sẽ tăng lên và giai cấp công nhân cũng theo đó mà lớn nhanh hơn.

Tóm lại, quan niệm của V.I. Lênin về CNTBNN là con đường tất yếu đối với các nước quá độ lên CNXH từ một nền kinh tế lạc hậu. Và 1/CNTBNN với hình thức cao nhất của nó là phòng chờ đi vào CNXH; 2/ CNTBNN trong điều kiện chính quyền giai cấp công nhân và nhân dân lao động là mắt xích trung gian để chuyển nền kinh tế hàng hóa của những người sản xuất nhỏ lên CNXH, chính nó là phương thức phát triển lực lượng sản xuất đặc trưng cho nền sản xuất hàng hóa nhỏ, bao hàm trong đó sự phát triển kinh tế hàng hóa, phát triển kinh tế thị trường ở trình độ cao, văn minh; 3/ CNTBNN là một chính sách để phát triển đại công nghiệp và củng cố liên minh công nông trên cơ sở mới; 4/ Là phương thức kiểm kê, kiểm soát có hiệu quả của Nhà nước XHCN đối với nền kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ trong quá trình phát triển; 5/ Là biểu hiện sinh động của việc biết cách học tập CNTB, biết cách vận dụng sáng tạo những thành tựu quản lý, phương thức, phương pháp điều khiển có hiệu quả nền kinh tế TBCN vào nền kinh tế XHCN.

2. Các hình thức CNTBNN theo quan niệm của V.I Lênin

V.I Lênin cho rằng, mục đích của thực tiễn là tìm ra những hình thức cụ thể thực hiện, Người không ràng buộc CNTBNN chỉ vào một số hình thức tồn tại bất di bất dịch nào đó. Quan điểm chung của V.I Lênin là: ”…ở chỗ nào có những thành phần tự do mua bán và những thành phần TBCN nói chung, thì ở đó có CNTBNN dưới hình thức này hay hình thức khác, ở trình độ này hay ở trình độ nọ” [9,268]. Như vậy, trong điều kiện của Nhà nước chuyên chính vô sản, nếu có sử dụng, hay cho tồn tại những hình thức kiểu “tự do mua bán” hoặc những thành phần kinh tế kiểu TBCN được điều hành quản lý bởi Nhà nước XHCN thì đó là những hình thức biểu hiện của CNTBNN. Thực tiễn sẽ chỉ ra những hình thức cụ thể sáng tạo, sinh động mà không một nhà tư tưởng nào có thể áp đặt từ chỗ hư vô được. Xuất phát từ thực tiễn, lúc sinh thời, Người đã tổng kết và nêu lên một số hình thức của CNTBNN được thực thi, bao gồm các hình thức sau:

1. Hình thức tô nhượng

Trong cuốn bàn về “Thuế lương thực” V.I Lênin đề cập rất nhiều tới hình thức tô nhượng, từ chỗ định nghĩa đến nêu lên sự cần thiết phải áp dụng hình thức tô nhượng, cũng như những lợi hại và những điều kiện không đáng sợ đối với hình thức tô nhượng.

Tô nhượng là gì? Theo V.I Lênin, đó là hợp đồng giữa Nhà nước và một nhà tư bản, người này cam kết tổ chức hoặc hoàn thiện sản xuất (chẳng hạn như đẵn và chở gỗ, khai thác than, dầu lửa, khoáng sản v.v…) trả cho Nhà nước một phần sản phẩm sản xuất và nhận được một phần khác dưới danh nghĩa là lãi. Lênin giải thích rõ thêm: “Nếu xét về phương diện các kết cấu kinh tế – xã hội cũng như về mối quan hệ giữa những kết cấu ấy với nhau, thì trong chế độ Xô viết tô nhượng là gì? Đó là một giao kèo, một sự liên kết, một liên minh giữa chính quyền Xô viết, nghĩa là Nhà nước vô sản với CNTB, chống lại thế lực tự phát tư hữu (có tính chất gia trưởng và tiểu tư sản) [9,269].

Nhà tư bản tiến hành kinh doanh với tư cách là một bên ký kết, là người thuê tư liệu sản xuất XHCN và thu được lợi nhuận của tư bản mà mình bỏ ra, rồi nộp cho Nhà nước một phần sản phẩm tô nhượng, là hình thức kinh tế mà hai bên cùng có lợi. Nhà tư bản kinh doanh theo phương thức tư bản cốt để thu lợi nhuận bất thường, siêu ngạch hoặc khó tìm được loại nguyên liệu mà họ không tìm được hoặc khó tìm được bằng cách khác. Trong hợp đồng giao kèo dưới hình thức tô nhượng này, chính quyền Xô viết cũng được lợi rất lớn. Trước hết, chính quyền sẽ thu được một số lượng sản phẩm nhất định do các nhà tư bản trích nộp lại. Hai là, chính quyền Xô viết sẽ sử dụng được tư bản, trang thiết bị hiện đại của nhà tư bản phục vụ sự phát triển của lực lượng sản xuất.

Đánh giá về tính chất của hình thức tô nhượng Lênin cho rằng: “So với những hình thức khác, tô nhượng có lẽ là hình thức đơn giản nhất, rành mạch nhất, sáng tỏ nhất, có hình thù rõ rệt nhất. Ở đây, chúng ta có một hợp đồng trực tiếp, chính thức viết trên giấy tờ với CNTB tây Âu, là CNTB văn minh nhất, tiên tiến nhất. Chúng ta biết đích xác cái lợi và cái hại cho chúng ta, những quyền lợi và nghĩa vụ của chúng ta, chúng ta biết đích xác thời hạn chúng ta tô nhượng, chúng ta biết những điều kiện để chuộc lại trước kỳ hạn, nếu hợp đồng có nói đến quyền ấy. Chúng ta trả một “cống nạp” cho chủ nghĩa tư bản thế giới, về một số mặt nào đó, chúng ta trả cho họ một số tiền chuộc, nhưng chúng ta có ngay được một biện pháp nhất định để củng cố chính quyền Xô viết để cải thiện những điều kiện làm ăn của chúng ta” [9,270-271].

Ý đồ chính lược của chính sách tô nhượng theo Lênin không phải là cải thiện đời sống công nhân mà là nâng cao lực lượng sản xuất và là một sự giao dịch trong đó chúng ta phải chịu nhiều hy sinh để tăng số lượng sản phẩm lên. Bởi vì, bản chất của tư bản là lợi nhuận, nếu muốn thu hút họ vào đầu tư phải có chính sách để khuyến khích tối đa. Lênin viết: “Tôi không hề hạ thấp những hy sinh đó, nhưng tôi đã từng nói rằng có thể là chúng ta đành phải để cho Nhà tư bản hưởng chẳng những hàng trăm, thậm chí cả hàng nghìn phần trăm tiền lãi: và đây là mấu chốt của vấn đề” [9,222].

Hình thức tô nhượng là sự “du nhập” chủ nghĩa tư bản từ bên ngoài. Tất cả khó khăn trong nhiệm vụ này là phải suy nghĩ, phải cân nhắc hết mọi điều kiện khi ký hợp đồng tô nhượng, nhất là tỷ lệ ăn chia sao cho hấp dẫn. Ở đây Lênin đưa ra tỷ lệ rất mạnh dạn 1/3, 1/4. Sau đó phải biết theo dõi kiểm tra đôn đốc việc chấp hành hợp đồng như thế nào?

Lênin đánh giá rất cao vai trò của hình thức tô nhượng, vì vậy hình thức tô nhượng được coi là phổ biến hơn cả. Với cách đặt vấn đề của Lênin hồi đó có thể quan niệm đó là hình thức “làm ăn” với tư bản nước ngoài nói chung. Song Lênin cũng đã nêu lên những quan điểm cần chú ý như sau:

Để thực hành CNTBNN dưới hình thức tô nhượng là cần phải từ bỏ chủ nghĩa ái quốc địa phương của một số người cho rằng tự mình có thể làm lấy. Lênin nêu rõ cần phải sẵn sàng chịu đựng cả một loạt hy sinh thiếu thốn và bất lợi miễn sao có được một chuyển biến quan trọng là cải thiện tình trạng kinh tế trong các ngành công nghiệp chủ yếu. Cũng phải dự kiến rằng trong thời gian đầu không thể tránh khỏi sai lầm, nhưng dù sao cũng phải cố đạt được điều đó.

2. Hình thức Hợp tác xã

Thoạt đầu, Lênin quan niệm tất cả các loại Hợp tác xã đều là hình thức CNTBNN. Về sau, từ thực tiễn nước Nga, Lênin đã phân biệt tổ chức kinh tế này trong những chế độ khác nhau. Nghĩa là trong thực tế tồn tại hai chế độ Hợp tác xã: Tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Chế độ Hợp tác xã tư bản chủ nghĩa trong lòng chế độ Xô viết được coi là hình thức CNTBNN.

Lênin đặt vấn đề: “Phải biết áp dụng những nguyên tắc những nguyên lý, nhưng trên cơ sở của chính sách “tô nhượng” (tức là giống như CNTBNN trong lĩnh vực “tô nhượng” vào những hình thức của CNTB, của tự do mua bán, của những trao đổi địa phương v.v…)

Từ đó Lênin xem: “Các Hợp tác xã cũng là hình thức của CNTBNN nhưng ít đơn giản hơn, có hình thù ít rõ rệt hơn và vì trong thực tế nó đặt chính quyền Xô viết trước những khó khăn lớn hơn”[9,271].

Các HTX ở đây là CNTB “HTX”, HTX của các nhà tư bản nhỏ, các tiểu chủ của hàng triệu tiểu nghiệp chủ. Dưới chính quyền Xô viết, CNTB “HTX” khác với CNTB tư nhân, nó là hình thái của CNTBNN và bản thân nó là có lợi và có ích cho chúng ta, dĩ nhiên là có lợi và có ích trong một mức độ nào đó. Hình thức HTX là giải pháp cực kỳ quan trọng để từng bước đưa hàng triệu tiểu nghiệp chủ, vào quỹ đạo XHCN, cả tiểu tư sản nông thôn và thành thị.

Tuy nhiên, giữa hình thức tô nhượng với HTX, có sự khác nhau khá lớn về nội dung, trình độ của lực lượng sản xuất, các mối quan hệ, phương thức và điều kiện thi hành. Theo V.I Lênin, tô nhượng dựa trên cơ sở đại công nghiệp cơ khí hóa, còn chế độ hợp tác xã dựa trên bộ phận thậm chí còn có tính chất gia trưởng. Trong mỗi hợp đồng tô nhượng, tô nhượng chỉ quan hệ đến độc nhất nhà tư bản hay độc một hãng, một Xanh-đi-ca, Các-ten hay Tờ-rớt thôi, còn HTX lại bao gồm hàng ngàn, thậm chí hàng triệu tiểu nghiệp chủ.

Tô nhượng cho phép, thậm chí phải có một hợp đồng chính xác và một thời hạn chính xác. HTX thì không có hợp đồng và cũng không có thời hạn thật chính xác. Bãi bỏ một hợp đồng tô nhượng không khó khăn bằng bãi bỏ một đạo luật về HTX. Nghĩa là có thể lập tức và đơn giản cắt đứt ngay những quan hệ thực tế của sự liên minh kinh tế hay của sự “chung sống” về mặt kinh tế với tư bản; trái lại không có sự thủ tiêu đạo luật nào về HTX và không có một đạo luật nào nói chung có thể cắt đứt ngay được sự “chung sống”, thực tế của chính quyền Xô viết với các nhà tư bản nhỏ. “Giám sát” một kẻ tô nhượng là việc dễ, nhưng giám sát các xã viên HTX là một việc khó.

Chuyển từ chế độ tô nhượng lên CNXH là chuyển một hình thức đại sản xuất này sang một hình thức đại sản xuất khác. Chuyển từ chế độ HTX của những Nhà sản xuất nhỏ lên CNXH là từ tiểu sản xuất sang đại sản xuất, nghĩa là một bước quá độ phức tạp hơn, nhưng nếu thành công, lại có thể bao gồm được những khối quần chúng nhân dân đông đảo hơn, nhổ được những gốc rễ sâu xa hơn và dai dẳng hơn của những quan hệ cũ, thậm chí tiền tư bản, là những quan hệ phản kháng mọi sự “đổi mới” một cách kịch liệt hơn.

Chính sách tô nhượng, một khi thuận lợi sẽ đưa lại cho chúng ta một số ít doanh nghiệp lớn kiểu mẫu. Kiểu mẫu so với doanh nghiệp của chúng ta – ngang trình độ của CNTB tiên tiến hiện đại, mấy chục năm nữa những doanh nghiệp ấy hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của chúng ta. Chính sách HTX một khi thành công sẽ giúp cho nền kinh tế nhỏ phát triển và tạo điều kiện thuận lợi cho nền đại sản xuất trên cơ sở tự nguyện kết hợp.

3. Hình thức đại lý ủy thác

Lênin coi hình thức này là hình thức thứ ba. Đây là hình thức Nhà nước lôi cuốn nhà tư bản với tư cách một nhà buôn, trả cho họ một số tiền hoa hồng để họ bán sản phẩm của nhà nước và mua sản phẩm của người sản xuất nhỏ.

4. Cho tư bản trong nước thuê doanh nghiệp, vùng mỏ, rừng, đất

Hình thức này giống như hình thức tô nhượng nhưng đối tượng tô nhượng không phải là tư bản nước ngoài mà tư bản trong nước. Hình thức này được coi là hình thức riêng biệt để phân biệt nó với hình thức tương tự nhưng đối tượng cho thuê là tư bản trong nước.

5. Cho nông dân thuê những hầm mỏ nhỏ

Qua thực tiễn vùng mỏ Đôn-bát, Lênin rút ra một hình thức nữa của CNTB Nhà nước: cho nông dân thuê những hầm mỏ. Lênin nhận xét: Chính những hầm mỏ cho nông dân thuê sản xuất lại đặc biệt phát triển hơn những doanh nghiệp lớn nhất trước kia của tư bản, ngang hàng với các xí nghiệp tư bản ở Tây Âu. Những quan hệ của CNTB Nhà nước được phát triển. Những nông dân này hoạt động theo kiểu nộp tô cho Nhà nước (gồm 30% số than khai thác được). Đây cũng là loại hình thức cho thuê, nhưng đối tượng thuê theo cách nói của Lênin là tiểu tư bản.

6. Công ty hợp doanh

Lênin đã trình bày về những thành tựu đạt được do thực hành chế độ CNTB Nhà nước trong báo cáo tại Đại hội IV Quốc tế Cộng sản. Khi trình bày về lĩnh vực thương nghiệp chính quyền Xô viết đang cố gắng lập ra những công ty hợp doanh và đã thành lập được theo thể thức tiền vốn một phần là của tư bản tư nhân, một phần của tư bản nước ngoài và một phần là của chính quyền Xô viết.

Lênin nói rõ: “Về thương nghiệp, chúng tôi cần nhấn mạnh thêm rằng chúng tôi đang cố gắng lập ra những công ty hợp doanh và chúng tôi đã có thành lập rồi: đó là công ty mà tiền vốn thì một phần của tư bản tư nhân, của tư bản ngoại quốc và một phần khác là của chúng tôi. Như thế là chúng tôi học tập làm công tác thương nghiệp, chúng tôi cần đến thương nghiệp… [10,336].

7. Một hình thức khác nữa của CNTBNN

Theo quan niệm của V.I Lênin là Nhà nước XHCN thiết lập sự kiểm kê, kiểm soát hoạt động của các tổ chức kinh tế tư nhân, bao gồm:

– Khối lượng và chủng loại sản phẩm được sản xuất;

– Giá cả và chất lượng hàng hóa;

– Thị trường tiêu thụ sản phẩm và cung ứng tư liệu sản xuất;

– Lợi nhuận và điều tiết lợi nhuận;

– Quan hệ giữa tư bản và lao động làm thuê;

Sự kiểm kê, kiểm soát những lĩnh vực nói trên được thực hiện có hiệu quả nhất là thông qua việc sử dụng các công cụ kinh tế như: thương nghiệp tài chính, tín dụng, ngân hàng, thị trường, giá cả… của Nhà nước XHCN.

3. Những kết luận rút ra từ quan niệm của V.I Lênin và việc phát triển CNTBNN ở Liên Xô dưới thời Lênin

1. Sau một năm thực hiện CNTBNN, Lênin đã đánh giá bài học thứ nhất và giai đoạn thứ nhất đã trải qua hồi mùa xuân năm 1921, đó là sự phát triển CNTBNN trên con đường mới, đạt được một số thành quả, nhưng cũng đang vấp phải những mâu thuẫn chưa từng thấy, thực tế chưa nắm vững được lĩnh vực này. Lênin cho rằng từ công cuộc xây dựng CNXH chuyển sang CNTBNN chúng ta nhận thấy rằng bây giờ Nhà nước cần phải điều tiết thương nghiệp và lưu thông tiền tệ. Ở đây, Lênin đã phát triển tư tưởng CNTBNN không chỉ thực sự thừa nhận sự tồn tại của quan hệ hàng hóa tiền tệ mà phải biết vận dụng thành thạo quan hệ kinh tế khách quan này vì mục đích của CNXH. Đồng thời làm rõ về mặt nội dung kinh tế của sự kiểm soát và kiểm kê của Nhà nước chính là nắm lấy thương nghiệp, lưu thông tiền tệ, phải học cách điều tiết sự vận động của đồng tiền, của lưu thông tiền tệ. Đó là mắt xích mà chính quyền vô sản phải đem toàn lực để nắm lấy.

2. Sự khẳng định những nội dung của CNTBNN mà Lênin không ngừng đấu tranh về mặt lý luận và trong thực tiễn để vận dụng trong thời kỳ chính sách kinh tế mới là phát triển sản xuất đại công nghiệp của CNXH, là thực hiện quá trình xã hội hóa sản xuất và lao động như là những điều kiện cần thiết khách quan để chuyển lên XHCN, là sự chuẩn bị các điều kiện kinh tế và xã hội cho sự thắng lợi hoàn toàn của CNXH. Đó là nền kinh tế hàng hóa được tổ chức và quản lý có kế hoạch của Nhà nước trên qui mô toàn xã hội.

3. Từ sự trình bày quá trình lịch sử hình thành khái niệm tư tưởng của Lênin về CNTB Nhà nước có thể cho phép nhận định rằng, CNTBNN là một nội dung kinh tế chính trị tổng quát, căn bản của thời kỳ quá độ ở những nước có nền kinh tế nhiều thành phần sản xuất nhỏ là phổ biến lên CNXH. Đó là một kiểu mẫu về vận dụng phép biện chứng duy vật lịch sử. Nó cho phép hiểu và vận dụng được quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lượng sản xuất, nhận thức được quá trình lịch sử tự nhiên không đốt cháy giai đoạn bằng bạo lực phi kinh tế. Mặt khác, việc xác định nội dung như vậy sẽ giúp xây dựng các chính sách của Nhà nước XHCN không phải dùng bạo lực đối với các thành phần kinh tế phi XHCN mà bằng biện pháp kinh tế, bằng cách hướng vào các hình thức của CNTBNN, bằng việc Nhà nước điều tiết vĩ mô và sử dụng những công cụ cực mạnh của nền kinh tế hàng hóa như ngân hàng, tài chính, tiền tệ, tín dụng, giá cả… để kiểm soát và định hướng hoạt động kinh doanh của các thành phần kinh tế. Hiểu CNTBNN theo đúng ý nghĩa đích thực của nó như đã nêu trên là cả quá trình thử nghiệm cả trong lý luận và thực tiễn, qua nhiều giai đoạn từ thấp lên cao. Phải hết sức khách quan và tỉnh táo hệ thống hóa lại vấn đề để nhìn CNTBNN đúng bản chất của nó. Vì vậy từ thời Lênin cho đến hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về CNTBNN là điều dễ hiểu.

4. Vận dụng CNTBNN là vừa phát huy tiềm lực bên ngoài để tạo điều kiện khơi dậy tiềm lực bên trong; đồng thời tận dụng tiềm lực bên ngoài, mà tiềm lực bên trong đóng vai trò quyết định. Để phát huy tiềm lực bên ngoài và bên trong phải vận dụng các hình thức TBNN một cách sáng tạo với phương châm vừa rộng rãi kiên quyết, vừa khéo léo thận trọng.

Đồng thời chính quyền của giai cấp công nhân và nhân dân lao động phải nắm vững nguyên tắc vận dụng CNTBNN: “các vị trí then chốt của nền kinh tế phải thuộc về chính quyền Xô viết”. Đó là nguyên tắc đảm bảo định hướng phát triển XHCN về mặt kinh tế.

5. Khi vận dụng CNTBNN không phải bằng bất cứ giá nào nhưng cũng phải chấp nhận có sự trả giá, miễn là sự trả giá đó đạt được mục tiêu lý tưởng của chúng ta là thông qua con đường của CNTBNN để đi lên CNXH. Để hạn chế sự trả giá đó giai cấp công nhân và nhân dân lao động phải học tập CNTB, phải học thật giỏi CNTB để bắt kịp và vượt qua CNTB, Vì vậy vấn đề đào tạo ra đội ngũ cán bộ để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới là yếu tố có tính chất quyết định trực tiếp đảm bảo sự thành công trong việc vận dụng CNTBNN.

6. CNTBNN là một trong những giải pháp chủ yếu đi lên CNXH chứ không phải là giải pháp duy nhất. Có nghĩa là chúng ta không tuyệt đối hóa CNTBNN mà phải thấy hết những mặt hạn chế của nó để khắc phục nhằm đảm bảo vận dụng CNTBNN đạt hiệu quả cao nhất.

*
* *

Qua phân tích quan điểm trong học thuyết lý luận về CNTBNN của V.I Lênin ở trên, chúng ta có thể nêu lên mấy đặc trưng bản chất – khái niệm CNTBNN như sau:

Một là, CNTBNN là sự kích thích yếu tố TBCN, sử dụng các lực lượng TBCN trong giới hạn cần thiết để làm động lực cho tổ chức và phát triển nền kinh tế theo quỹ đạo CNXH hay hướng tới CNXH theo đúng nghĩa của nó.

Hai là, mục tiêu cơ bản, trực tiếp nhất của CNTBNN là phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng nền đại công nghiệp, là tạo ra điều kiện vật chất đầy đủ của CNXH, đưa nền kinh tế tiểu nông lạc hậu quá độ lên CNXH, bước vào “phòng chờ” của CNXH.

Ba là, khái niệm CNTBNN ở đây phải hiểu là trong điều kiện của Nhà nước XHCN và tự nó nói lên vai trò của Nhà nước XHCN, là thực hiện một trong những phương tiện quan trọng hàng đầu là kiểm kê, kiểm soát, điều hành nền kinh tế XHCN. CNTBNN là công cụ để liên hợp nền sản xuất nhỏ lại, khắc phục tình trạng phân tán và đấu tranh chống tính tự phát tiểu tư sản và CNTB.

Có thể hiểu một cách vắn tắt: Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước là sự kết hợp giữa Nhà nước với các nhà tư bản (trong và ngoài nước) nhằm mục đích sử dụng đầy đủ, hợp lý và có hiệu quả vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý sản xuất. Đây là hình thức kinh tế do Nhà nước kiểm soát điều tiết sự phát triển.

Vấn đề khác nhau chỉ là ở chỗ sự kiểm soát và điều tiết ấy nhằm mục đích gì, có lợi cho ai, trong giới hạn nào, bằng phương pháp gì và khả năng kiểm soát, điều tiết đạt tới mức độ nào.

Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước là bước trung gian quá độ từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong điều kiện những nước kém phát triển, đó là những hình thức kinh tế do nhiều thành phần kinh tế tham gia hoạt động dưới sự quản lý và điều tiết của Nhà nước chuyên chính vô sản.

Về thực chất, CNTBNN trong điều kiện chính quyền thuộc giai cấp công nhân và nhân dân lao động là một loại hình kinh tế đặc biệt trong thời kỳ quá độ xây dựng CNXH. Với CNTBNN không tồn tại giai cấp tư sản mà chỉ là các nhà tư bản riêng biệt hoạt động dưới sự điều hành quản lý của Nhà nước trong khuôn khổ luật pháp của Nhà nước với phạm vi, mức độ và tỷ lệ hợp lý.

Theo định nghĩa hẹp hay định nghĩa thông thường, thì CNTBNN chỉ là một trong những thành phần kinh tế nằm trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Tuy nhiên, khi hiểu CNTBNN với tư cách là một thành phần kinh tế cũng cần phải thấy rõ, nó là một thành phần kinh tế hỗn hợp, một thành phần kinh tế đặc biệt, bao gồm rất nhiều lực lượng kinh tế tham gia, với nhiều hình thức kinh tế cụ thể, mà V.I Lênin cũng chỉ mới khái quát nên một số hình thức nhất định trong lúc sinh thời.

Theo định nghĩa rộng, về một phương diện nhất định, CNTBNN là một chính sách, một công cụ của Nhà nước XHCN để lãnh đạo, điều hành, quản lý, kiểm kê, kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành phầm kinh tế, nhất là thành phần kinh tế tư nhân. Nói một cách chính xác, CNTBNN là một kiểu kinh tế quá độ, một kiểu tổ chức nền sản xuất xã hội, là một phương thức, một phương hướng phát triển kinh tế trong điều kiện từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN dưới chính quyền của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, với nhiều hình thức và biện pháp phong phú.

Những hình thức kinh tế cụ thể CNBNN đã được tổng kết, gồm có 1/ Tô nhượng; 2/ Hợp tác xã của những người tiểu nghiệp chủ; 3/ Đại lý ủy thác thương mại; 4/ Cho tư bản trong nước thuê doanh nghiệp , vùng mỏ, hợp doanh rừng; đất đai; 5/ Cho nông dân thuê những hầm mỏ nhỏ; 6/ Công ty hợp doanh (công tư hợp doanh) và 7/ Áp dụng những công cụ thương nghiệp, ngân hàng, tài chính, tín dụng, giá cả, thị trường… để kiểm kê, kiểm soát hoạt động kinh tế của các thành phần, đặc biệt là tư nhân.

Chương IV
Sự thực hiện chủ nghĩa tư bản
nhà nước ở Liên xô dưới thời Lênin
và ở một số nước xã hội chủ nghĩa khác

 

Để đi đến mục tiêu chủ nghĩa xã hội, một xã hội không còn chế độ người bóc lột người, có nền kinh tế phát triển cao, mọi thành viên trong xã hội đều được phát triển toàn diện, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc và bình đẳng, sau khi nắm được chính quyền Nhà nước XHCN phải tập trung mọi cố gắng xây dựng và phát triển nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhiều hình thức kinh tế có thể đi tới chủ nghĩa xã hội. Song phải nói rằng Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước là một hình thức khá phù hợp. Bởi lẽ, ở hình thức này trình độ xã hội hóa sản xuất đã đạt rất cao, mặt khác nó là hình thức giúp cho Nhà nước XHCN tích lũy vốn nhanh, tiếp thu được khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại, học hỏi được các phương pháp quản lý kinh tế tiên tiến – Nhờ đó mà có thể đẩy nhanh nhịp độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế nước nhà, rút ngắn được thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Khác hẳn với CNTBNN trong điều kiện chuyên chính tư sản của nước tư bản phát triển cũng như ở các nước đang phát triển theo con đường TBCN, CNTBNN trong điều kiện chính quyền của giai cấp công nhân và nhân dân lao động là liên minh kinh tế giữa nhà nước giai cấp vô sản với nhà tư sản, nó bị điều tiết bởi Nhà nước XHCN chính quyền thuộc giai cấp công nhân và nhân dân lao động chỉ là một kiểu kinh tế quá độ “bắc những chiếc cầu nhỏ” tiến lên CNXH. Nó là những công cụ để kiểm kê, kiểm soát, sử dụng CNTB phục vụ CNXH, chứ không phải phục vụ lợi ích của CNTB.

CNTBNN trong điều kiện chính quyền giai cấp công nhân và nhân dân lao động thực hiện đầu tiên ở Liên Xô dưới thời Lênin, bắt đầu từ năm 1921. Các hình thức CNTBNN do Lênin đề xuất đều được áp dụng. Tuy nhiên, trong điều kiện hoàn cảnh quốc tế lúc đó, nước Nga bị chủ nghĩa đế quốc bao vây kinh tế và cả chính trị rất mạnh cho nên hình thức tô nhượng, hình thức chủ yếu của CNTBNN thực hiện không được là bao. Đến năm 1922, vẫn chưa có một tô nhượng sinh lợi nào trong công nghiệp nặng.

Qua các tài liệu và sự đánh giá cho đến năm 1924, nhìn chung nhờ áp dụng CNTBNN đã mang lại cho nước Nga Xô viết những tác dụng tích cực nhất định, góp phần làm sống động nền kinh tế nước Nga đã bị suy sụp sau chiến tranh. Nhờ tô nhượng với nước ngoài, nhiều ngành công nghiệp quan trọng, đặc biệt là khai thác dầu, đã phát triển khá, nhiều kinh nghiệm tiên tiến với kỹ thuật, thiết bị khá hiện đại của nền sản xuất lớn TBCN đã được đưa vào quá trình sản xuất, mang lại hiệu quả cao. Tô nhượng cùng các công ty hợp doanh đã góp phần phát triển sản xuất hàng hóa, tăng thêm dự trữ ngoại tệ cho đất nước, mở rộng quan hệ liên kết kinh tế, liên doanh trong các lĩnh vực đầu tư sản xuất, chuyển giao công nghệ tiên tiến và phát triển ngoại thương với các nước tư bản phương Tây. Thông qua các hoạt động của công ty hợp doanh, những người cộng sản Nga còn học được cách buôn bán từ những nhà tư bản. Hoạt động của các doanh nghiệp cho thuê, các doanh nghiệp hỗn hợp đã góp phần giúp nhà nước Xô viết duy trì sự hoạt động sản xuất bình thường ở các cơ sở kinh tế, tăng thêm sản phẩm cho xã hội, việc làm cho người lao động. Hình thức đại lý thương nghiệp và các hợp tác xã TBNN trong các lĩnh vực sản xuất, tín dụng và tiêu thụ đã góp phần quan trọng trong việc hỗ trợ thương nghiệp XHCN, đẩy nhanh quá trình trao đổi và lưu thông hàng hóa tiền tệ, làm sống động nền sản xuất hàng hóa nhỏ, qua các cải biến những người tiểu nông, nối liền quan hệ công-nông nghiệp thành thị và nông thôn…

Song, so với sự mong muốn và mục tiêu đặt ra từ ban đầu của V.I Lênin thì kết quả thực hành chế độ TBNN vẫn còn thấp. Sự hợp tác, đầu tư của tư bản nước ngoài vào Liên Xô không đạt như mong muốn. Trong những năm 1923 – 1924 (những năm cuối của Lênin) tỷ trọng của kinh tế TBNN trong tổng sản phẩm của cả nước chiếm có 1%. Năm 1923, các doanh nghiệp tô nhượng mới sản xuất được khối lượng sản phẩm trị giá 35,1 triệu rúp. Tuy nhiên, kết quả lớn nhất là, nhờ chính sách kinh tế mới, trong đó áp dụng CNTBNN là cốt lõi, mà chính quyền Xô viết đã giữ được những vị trí vững chắc trong nông nghiệp và có khả năng tiến lên được. Nông dân vừa lòng, công nghiệp cũng như thương nghiệp hồi sinh phát triển [27,52].

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, một số nước dân chủ nhân dân đã thi hành chế độ CNTBNN, với tư cách là một phương pháp cải tạo hòa bình giai cấp tư sản, trong đó có nước ta. Nổi bật là Cộng hòa Dân chủ Đức (trước đây) và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã có nhiều kinh nghiệm và thành công trong việc áp dụng CNTBNN, mặc dù quan điểm ở các nước này không hoàn toàn giống nhau.

Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cũng tiến hành cải tạo hòa bình giai cấp tư sản dân tộc dưới nhiều hình thức của CNTBNN. Song, quá trình này chỉ thực hiện trong những năm 1950 và bị đứt đoạn trong những năm sau đó, cho đến khi Trung Quốc bắt đầu thực hiện chính sách “mở cửa, cải cách” vào nửa cuối những năm 1970 thì CNTBNN mới được khôi phục lại và phát triển dưới nhiều hình thức hoàn toàn khác với quan điểm trước đó. Phát triển CNTBNN trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường XHCN mang mầu sắc Trung Quốc, nhà nước sử dụng công cụ thị trường để thực hành điều tiết mô. Hai công cụ mạnh nhất được thi hành là chính sách tiền tệ (bao gồm cả chính sách tỷ giá hối đoái) và chính sách cơ cấu (bao gồm cả cơ cấu vùng). Cải cách khu vực kinh tế quốc doanh theo hướng thị trường. Thiết lập các đặc khu kinh tế và thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài vào đó. Chủ trương của nhà nước ở đây là tạo ra xung lực phát triển cho đất nước bằng vốn nước ngoài, đồng thời kiểm soát được sự phát triển đó. Giải phóng được khu vực kinh tế nông thôn bằng chế độ khoán hộ và phát triển các doanh nghiệp Hương trấn.

 

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s