Phần thứ nhất

CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NHÀ NƯỚC TRONG CÁC NƯỚC TƯ BẢN CHỦ NGHĨA

 

CHƯƠNG I

CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NHÀ NƯỚC TRONG CÁC NƯỚC ĐÃ PHÁT TRIỂN

Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước dưới chế độ tư bản chủ nghĩa là giai đoạn phát triển cao của chủ nghĩa tư bản – là hình thức mà Nhà nước tư bản sử dụng tăng thêm sức mạnh kinh tế của mình thông qua việc nắm trực tiếp, hay tham gia một phần vào hoạt động của các doanh nghiệp của các nhà tư bản. Việc tham gia của Nhà nước tư bản thường dưới các hình thức sau đây: Chuyển các doanh nghiệp cá biệt vào tay Nhà nước, xây dựng các doanh nghiệp mới dựa vào ngân sách Nhà nước hoặc bằng cách Nhà nước nắm cổ phiếu khống chế ở các công ty cổ phần v.v…

Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước trong điều kiện chuyên chính tư sản là hình thức biến dạng của sở hữu tư bản chủ nghĩa. Mặc dù đó là quyền sở hữu của nhà nước, nhưng hình thức sở hữu này không làm thay đổi bản chất chế độ tư bản chủ nghĩa, vì nó vẫn dựa trên cơ sở chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất.

Trên thực tiễn, các nhà tư bản làm cho nhà nước phụ thuộc họ, và sử dụng nhà nước để phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản. Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước làm cho lợi nhuận của các nhà tư bản tăng lên, củng cố thêm địa vị kinh tế và chính trị của giai cấp tư sản thống trị. Chính vì thế, xét cho cùng Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước dưới chế độ tư bản cũng là để bảo vệ sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản. Ở các nước đế quốc, Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước mang tính chất chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà nước.

Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là hình thức thống trị của tư bản độc quyền dựa trên cơ sở tích tụ và tập trung tư bản cao độ. Khi chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh chuyển sang giai đoạn CNTB độc quyền, thì nét đặc trưng cơ bản của nó là tổ chức độc quyền đóng vai trò quyết định trong đời sống kinh tế và chính trị của các nước tư bản chủ nghĩa.

Nhờ tích tụ và tập trung tư bản, các xí nghiệp có qui mô lớn ra đời, và sản xuất của các nước tư bản tuyệt đại bộ phận được tập trung trong các xí nghiệp này. Việc tập trung sản xuất đó đã chuẩn bị cho bước chuyển sang sự thống trị của các tổ chức độc quyền. Các tổ chức này kết hợp với nhau thành các tổ chức độc quyền, chiếm địa vị thống trị tuyệt đối trong các ngành sản xuất. Các tổ chức độc quyền nắm những mạch máu kinh tế chủ yếu của các nước tư bản. Tư bản độc quyền ngân hàng và tư bản độc quyền công nghiệp kết hợp lại thành tư bản tài chính. Tư bản tài chính cấu kết với bộ máy nhà nước, lũng đoạn bộ máy nhà nước và biến nó thành công cụ đắc lực cho quyền lợi của các nhà tài phiệt. Nhà nước tư bản lúc này là nhà nước tư bản độc quyền.

Chủ nghĩa tư bản nhà nước độc quyền biểu hiện dưới hình thức: hoặc là các tổ chức độc quyền thu hút giới chức cao cấp của nhà nước tham gia vào ban quản trị của các công ty tư bản độc quyền, hoặc các nhà tư bản của các tổ chức tư bản độc quyền trực tiếp tham gia vào chính phủ các nước tư bản. Tổ chức tư bản độc quyền nào nắm được chính phủ, chi phối được chính phủ sẽ hướng được sự đầu tư và các chính sách của nhà nước có lợi cho tổ chức độc quyền đó và ngược lại. Chính vì thế giữa các tổ chức độc quyền trong các nước tư bản đã nổ ra các cuộc đấu tranh hết sức quyết liệt để giành lấy bộ máy nhà nước, chia nhau chức tước trong cơ quan chính phủ.

Từ đó có thể khẳng định rằng, Chủ nghĩa tư bản nhà nước dưới chế độ tư bản chỉ là hình thức thích nghi của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, với trình độ phát triển mới của lực lượng sản xuất, là kết quả của quá trình xã hội hóa nền sản xuất, nó không hề mở ra lối thoát cho quá trình này, không giải quyết được mâu thuẫn giữa nhu cầu bức thiết của xã hội hóa sản xuất và lợi ích hẹp hòi của giai cấp tư sản. Mâu thuẫn trên đã không cho phép đưa quá trình xã hội hóa sản xuất ra phạm vi toàn xã hội.

Vì thế, đến những năm 1970-1980 của thế kỷ này đã bắt đầu xuất hiện một cuộc khủng hoảng cơ cấu kéo dài. Một lần nữa chủ nghĩa tư bản lại tìm ra những hình thức thích nghi mới, nhằm thoát khỏi những khó khăn kinh tế do khủng hoảng đem lại, đồng thời lại lợi dụng được kỹ thuật và công nghệ tiên tiến trong quá trình phát triển kinh tế. Đó là quá trình xuyên quốc gia hóa sản xuất tư bản.

Trình độ xã hội hóa sản xuất lúc này đã vượt ra ngoài phạm vi quốc gia và phát triển theo hướng quốc tế hóa. Đó là nguồn gốc sâu xa của việc hình thành các công ty đa quốc gia và xuyên quốc gia. Nguyên nhân cơ bản của việc ra đời các công ty đa quốc gia là lợi thế của mạng lưới sản xuất và phân phối toàn cầu. Lợi thế so sánh này sẽ tăng trong việc liên kết ngang và liên kết dọc của các công ty con.

Thông qua liên kết dọc, hầu hết các công ty đa quốc gia có thể nắm chắc việc cung cấp nguyên liệu và các sản phẩm trung gian cần thiết từ nước ngoài, đồng thời khắc phục được những khuyết điểm thường thấy ở thị trường nước ngoài.

Sự liên kết ngang của các công ty con tạo cho các công ty đa quốc gia có được mạng lưới dịch vụ và phân phối sản phẩm tốt hơn. Các công ty đa quốc gia được độc quyền khai thác năng lượng, họ có thể làm cho sản phẩm mình sản xuất ra thích nghi với điều kiện và thị hiếu của từng địa phương và dẫn đến việc ổn định, cải tiến chất lượng sản phẩm.

Lợi thế so sánh của các công ty đa quốc gia còn dựa trên hệ thống cơ cấu tổ chức sản xuất, tài chính, nghiên cứu và phát triển, thu nhập thông tin thị trường v.v… Điều này cho phép họ giành thắng lợi trong việc phân công lao động và chuyên môn hóa sản xuất đối với các công ty của mỗi quốc gia.

Công ty đa quốc gia cùng với công ty con liên kết ở nước ngoài thường có điều kiện hơn trong việc mở rộng thị trường tư bản quốc tế so với các công ty quốc gia thuần túy. Các công ty đa quốc gia có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc điều khiển hoặc thay đổi môi trường đầu tư và vì thế họ cũng hoạt động tốt hơn so với các công ty quốc gia thuần túy.

Các công ty đa quốc gia có thể có nhiều cách đối phó với các rủi ro xảy ra trong sản xuất kinh doanh, nhờ đó họ có thể kiếm được nhiều lợi nhuận hơn các công ty quốc gia thuần túy.

Tuy nhiên, bên cạnh những lợi thế đó, sự ra đời và hoạt động của các công ty đa quốc gia cũng đem lại cho các nước chủ đầu tư cũng như nước nhận đầu tư nhiều vấn đề phức tạp.

a) Đối với các nước chủ đầu tư

Ảnh hưởng quan trọng nhất ở nước chủ đầu tư là việc giảm bớt công ăn việc làm trong nước do kết quả của việc đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Các công việc không chuyên môn và bán chuyên môn trong nước bị mất lợi thế vì ở nước ngoài giá nhân công rẻ hơn. Chính vì lý do này mà các tổ chức lao dộng tại các nước có công ty đa quốc gia chống lại việc đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.

Việc xuất khẩu các kỹ thuật tiên tiến được phối hợp với các doanh nghiệp ở nước ngoài nhằm tối đa hóa lợi nhuận hợp tác có thể làm hao mòn kỹ thuật ưu việt của nước chủ đầu . Tuy nhiên hiện nay các công ty đa quốc gia đang có khuynh hướng tập trung nghiên cứu và phát triển kỹ thuật cao ngay trong nước, vì vậy nó cho phép họ giữ được kỹ thuật hàng đầu của công ty đa quốc gia. Điều này lại bất lợi cho các nước thu hút đầu tư trong chủ trương du nhập kỹ thuật cao.

Việc tái đầu tư lợi nhuận ở nước ngoài của các công ty con về thực chất chẳng khác gì việc vay tiền của nước chủ nhà mà không trả lãi. Nếu tỉ suất lợi tức của nước đầu tư và nước chủ nhà (nước tiếp nhận đầu tư) là như nhau, thì chính phủ sẽ không thu được một đồng nào khi các công ty đa quốc gia chuyển lợi nhuận về nước.

Sau cùng, việc gia tăng công ty đa quốc gia trên thị trường tư bản quốc tế có thể phá vỡ chính sách tiền tệ trong nước và làm cho việc quản lý nền kinh tế của chính phủ nước đầu tư thêm khó khăn.

b) Đối với các nước tiếp nhận đầu tư

Bị tác động trên nhiều mặt:

Về kinh tế: Các công ty đa quốc gia thống trị nền kinh tế của các nước tiếp nhận đầu . Thực tế này đã xảy ra ở Canada. Tại đây, trong ngành chế tạo, có hơn 60% số vốn là thuộc sở hữu của nước ngoài hoặc do nước ngoài điều hành – trong đó 40% là của Mỹ.

Về chính trị: Các công ty con của các công ty đa quốc gia thường không muốn, hoặc miễn cưỡng trong việc xuất khẩu sang các nước không thân thiện với chính phủ của họ. Trong một số trường hợp các công ty đa quốc gia còn cấm các công ty con xuất khẩu sang các nước mà họ thù địch. Việc này các công ty đa quốc gia của Mỹ đã làm đối với Việt Nam trước đây và Cu Ba hiện nay.

Về tài chính: Càng vay tiền của các công ty đa quốc gia bao nhiêu, nền tài chính của các nước tiếp nhận đầu tư càng khó khăn bấy nhiêu. Nợ nước ngoài ngày càng lớn, ngay cả lạm phát ngày càng tăng – lệ thuộc về kinh tế và tài chính vào nước ngoài ngày càng nhiều.

Về kỹ thuật: Nói chung, vì quyền lợi dân tộc, các công ty đa quốc gia thường đưa kỹ thuật, công nghệ và máy móc thiết bị lạc hậu hoặc loại trung bình, gây ô nhiễm nhiều về môi trường ra nước ngoài, nhất là các nước đang phát triển, còn kỹ thuật và công nghệ tiên tiến họ giữ lại trong nước. Điều này làm cho các nước tiếp nhận đầu tư luôn lệ thuộc vào họ.

Về lợi nhuận: Các công ty đa quốc gia có thể thu từ các nước tiếp nhận đầu tư rất nhiều lợi nhuận.

Như vậy là Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước dưới chủ nghĩa tư bản cũng có nhiều mặt tích cực song cũng tồn tại những vấn đề nan giải mà chủ nghĩa tư bản không thể giải quyết được.

CNTBNN độc quyền tiêu biểu nhất hiện nay là ở 7 nước công nghiệp phát triển: Anh, Mỹ, Pháp, Đức, Italia, Canada và Nhật Bản đã chi phối gần như toàn bộ nền kinh tế thế giới.

 

CHƯƠNG II

CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NHÀ NƯỚC TRONG CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN

 

Qua các phong trào giải phóng dân tộc, các quốc gia thuộc địa trước đây đã giành được độc lập dân tộc. Một số nước tiến lên theo con đường xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng Sản lãnh đạo, hướng còn lại theo hướng tư bản chủ nghĩa hoặc theo hướng phi tư bản chủ nghĩa. Tuy khuynh hướng chính trị của mỗi nước có khác nhau, nhưng họ có mẫu số chung là luôn tìm cách thoát ra khỏi sự lệ thuộc của chủ nghĩa đế quốc để bảo vệ độc lập tự chủ cho quốc gia, dân tộc mình. Đó là điều kiện quan trọng để các quốc gia này liên kết với nhau, nhất là trên lĩnh vực kinh tế, văn hóa xã hội để tồn tại và phát triển bền vững.

Trong nền kinh tế các nước này đã xuất hiện hiện tượng kinh tế mới: Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước trong điều kiện các nước đang phát triển dưới chính quyền không thuộc giai cấp công nhân. Trong thực tế, Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước kiểu này tồn tại dưới nhiều hình thức: Liên doanh với tư bản nước ngoài, đặc khu kinh tế, khu chế xuất, khu đầu tư công nghiệp kỹ thuật cao, thành lập các công ty cổ phần do Nhà nước nắm cổ phiếu khống chế v.v… Trong các hình thức này, việc xây dựng các doanh nghiệp Nhà nước có vai trò rất quan trọng. Đó là những doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu và quản lý của Nhà nước dân tộc chủ nghĩa.

Có tới hàng vạn doanh nghiệp Nhà nước đang phát triển với nhiều hình thức đa dạng, phong phú, nhưng tựu trung lại có hai hình thức chủ yếu:

Hình thức thứ nhất là

Thành lập các doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của Nhà nước tư sản bằng cách quốc hữu hóa những doanh nghiệp trước đây là của tư bản nước ngoài và xây dựng doanh nghiệp mới bằng ngân sách Nhà nước.

Hình thức thứ hai là

Nhà nước nắm số cổ phiếu khống chế trong công ty cổ phần hoặc liên doanh với công ty nước ngoài để Nhà nước có thể trực tiếp khống chế một doanh nghiệp tư nhân nào đó.

Trong những năm 50 và 60 của thế kỷ này, sau khi các nước thuộc địa được giải phóng khỏi chủ nghĩa thực dân, giành lại chính quyền và tài sản kinh tế từ tay bọn thực dân tư bản nước ngoài, quốc hữu hóa là hình thức được áp dụng rộng rãi.

Do các công ty tư bản nước ngoài đầu tư vào các nước thuộc địa chủ yếu nhằm vơ vét tài nguyên thiên nhiên và bóc lột sức lao động rẻ mạt, nên số doanh nghiệp mà các nước mới giải phóng quốc hữu hóa được phần lớn là những doanh nghiệp khai thác nguyên liệu và khoáng sản.

Các nước dân tộc chủ nghĩa quan niệm các cơ sở kinh tế nói trên là những mắt khâu kinh tế quan trọng của nền kinh tế – vì thế nhà nước phải trực tiếp nắm dưới hình thức doanh nghiệp nhà nước.

Từ những năm 1970 ở các nước dân tộc vừa được giải phóng, các doanh nghiệp nhà nước mới bắt đầu được xây dựng. Các doanh nghiệp mới được xây dựng chủ yếu tập trung ở các ngành: Công nghiệp chế biến, chế tạo cơ khí, cơ sở hạ tầng và dịch vụ, là những ngành được xếp vào loại cơ bản, chiến lược và then chốt để bảo đảm cho các nước này thực sự tự lực cánh sinh, tự chủ về kinh tế. Kết quả là, ngày nay ở các nước đang phát triển khu vực kinh tế nhà nước không chỉ chiếm một vị trí quan trọng trong công nghiệp khai thác, mà cả ở các ngành công nghiệp và dịch vụ khác nữa.

Trước thập kỷ 60, hầu hết các doanh nghiệp nhà nước ở các nước đang phát triển có qui mô vừa và nhỏ, song ngày nay nhiều doanh nghiệp đã trở thành những doanh nghiệp có qui mô lớn.

Xét về mặt tài sản cố định, 3 công ty lớn nhất Brazin, 9 công ty lớn nhất ở Indonexia và 2 trong 3 công ty lớn nhất Mehicô là những công ty thuộc sở hữu nhà nước. Xét về mặt chỉ số hàng hóa, ở Hàn Quốc, 12 trong 16 công ty lớn nhất là của nhà nước. Trong số những công ty của các nước đang phát triển, một số đã trở thành những công ty xuyên quốc gia như công ty dầu lửa Iran, công ty khai mỏ CVRD và công ty dầu lửa Petrobas của Brazin. Theo thống kê của tạp chí Fortune – Mỹ, năm 1978, trong 500 công ty lớn nhất thế giới nằm ngoài nước Mỹ, có 34 công ty là những doanh nghiệp Nhà nước của các nước đang phát triển.[37]

Sự xuất hiện hình thức kinh tế Nhà nước ở các nước đang phát triển là sự cần thiết khách quan của công tác quản lý mô. Báo cáo của Liên hợp quốc về tình hình xã hội trên thế giới năm 1985 đã cho biết, doanh nghiệp Nhà nước được thành lập ở hầu hết các nước trên thế giới[36]. Điều này chứng tỏ doanh nghiệp Nhà nước là một hiện tượng chung về sự phát triển kinh tế của thế giới trong giai đoạn hiện nay, khi mà các hoạt động quản lý vĩ mô đòi hỏi Nhà nước phải đóng vai trò ngày càng lớn trong nền kinh tế. Về qui mô và mức độ hoạt động của doanh nghiệp Nhà nước ở các nước có khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi nước. Doanh nghiệp Nhà nước ở các nước đang phát triển là một hình thức tư bản nhà nước. Vai trò lịch sử tiến bộ của hình thức Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước không chỉ giới hạn ở đó mà còn là kết quả của sự nhận thức về vai trò của khu vực Nhà nước trong quá trình công nghiệp hóa đất nước.

Các nước đang phát triển xây dựng khu vực kinh tế Nhà nước vì họ coi đó là một công cụ hữu hiệu nhất để công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hoàn thiện một nền độc lập về chính trị và kinh tế. Báo cáo tại hội nghị chuyên đề về phát triển khu vực tư nhân tổ chức tại Singapore tháng 12/1987, Tiến sĩ Seji Naya, giám đốc Học viện các hệ thống tài nguyên thuộc Trung tâm đông tây Honolulu, Hawai nêu rõ “khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai nền độc lập về chính trị mà nhiều nước đang phát triển giành được đã khiến họ khao khát độc lập kinh tế. Công nghiệp hóa nhanh chóng nền kinh tế đất nước được coi là chìa khóa để phát triển, kế hoạch hóa tập trung và sở hữu tập trung các khu vực then chốt, được xem là con đường nhanh nhất và có hiệu quả nhất để hoàn thiện nền độc lập về chính trị và kinh tế [38,4].

Đó là lý do bao quát nhất dẫn tới sự hình thành và phát triển khu vực kinh tế Nhà nước ở nhiều nước đang phát triển.

Sự phát triển của khu vực kinh tế Nhà nước có thể tạo ra nguồn tích lũy lớn, có thể ứng dụng nhanh những tiến bộ mới của khoa học – kỹ thuật và công nghệ, những cái mà trong điều kiện của nền kinh tế lạc hậu, thành phần kinh tế tư nhân chưa thể làm được.

Trong lĩnh vực chính trị-xã hội, khu vực kinh tế Nhà nước có thể giúp các nước đang phát triển giải quyết công ăn việc làm cho người dân, bảo vệ chủ quyền dân tộc, thực hiện việc phân phối lại thu nhập, điều chỉnh sự phát triển giữa các ngành, các vùng, các tầng lớp dân cư, góp phần thúc đẩy quan hệ hợp tác tương trợ vì lợi ích chung của quốc gia, hạn chế tập trung quyền lợi vào tay một số ít người.

Tuy còn nhiều ý kiến khác nhau trong việc đánh giá vai trò kinh tế Nhà nước, nhưng đây là mô hình Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước kiểu mới vì nó không phải là Nhà nước công nông do giai cấp công nhân và nhân dân lao động lãnh đạo, nhưng cũng không thuộc về giai cấp tư bản độc quyền Nhà nước, mà thuộc về tư sản dân tộc. Kiểu tư bản nhà nước này có vai trò tích cực trong việc phát triển kỹ thuật và cải tạo cơ cấu kinh tế, trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong việc củng cố nền độc lập về kinh tế chống lại thế lực tư bản độc quyền nước ngoài, phá vỡ, ngăn chặn sự thống trị của tư bản nước ngoài, giữ vững nền tự chủ của quốc gia.

Bên cạnh hình thức các doanh nghiệp Nhà nước, ở các nước đang phát triển còn vận dụng Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước dưới mô hình kết hợp chặt chẽ giữa kế hoạch quản lý Nhà nước với thị trường như các nước tư bản phát triển đã làm.

Những nước đang phát triển vận dụng Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước theo cả hai phương thức nêu trên tiêu biểu có Nam Triều Tiên, Indonêxia, Malaysia, Singapore v.v…

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s