ĐỀ TÀI HỘI THẢO VỀ ĐƯA NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO ÁP DỤNG VÀO ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

ĐỀ DẪN THAM LUẬN

Mở đầu: Nông nghiệp công nghệ cao vừa cũ vừa mới áp dụng ở đồng bằng sông Cửu Long:

Cũ: từng nơi, từng địa phương đã áp dụng công nghệ cao thông qua các nhà khoa học như GS.TS Võ Tòng Xuân…, các “lão nông tri điền” lai tạo giống lúa và cây trồng vật nuôi năng suất cao, sáng chế các loại mát gặt đập liên hợp…

Mới: Góp phần công nghiệp hóa, hiện đại hóa quy mô toàn đồng bằng sông Cửu Long góp phần lai tạo cây trồng vật nuôi năng suất cao.

  1. Nông nghiệp công nghệ cao là gì:

Có nhiều định nghĩa, nhưng tôi thiên về ý kiến của tiến sĩ Nguyễn Quốc Vọng – Việt kiều Úc, chuyên gia nông nghiệp của Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn cho rằng “Bất cứ một công nghệ nào có thể mang đến cho ta mô hình nông nghiệp công nghệ cao áp dụng tại đồng bằng sông Cửu Long vơi các tiêu chí:

  1. Năng suất cây con cao
  2. Chất lượng tốt
  3. An toàn vệ sinh theo tiêu chí GAP
  4. Giá rẻ cạnh tranh
  5. Đem đến lợi nhuận cao cho nhà sản xuất (nông dân)…thì đấy chính là công nghệ cao.

Xem như vậy thì để đạt được 5 mục tiêu nói trên công nghệ ứng dụng bắt buộc phải cao. Nhưng cao theo kiểu của Việt Nam chứ không phải của nước ngoài để không phải trả giá đắt như ơ một số nơi phía Bắc đã từng gánh chịu. Vì đã bỏ ra 7 tỷ đồng để xây dựng một nhà bao che dù có hiệu quả tốt nhựng không nhân rộng ra được.

II. Về mô hình áp dụng nông nghiệp công nghệ cao vào đồng bằng sông Cửu Long, tôi xin chia sẽ quan điểm nêu trên của TS Nguyễn Quốc Vọng.

  1. Dựa vào đặc điểm của ĐBSCL mà áp dụng cho phù hợp.

  2. Một số giải pháp thực hiện.

  3. Sự phối hợp nhà nước, nhà nông, nhà khoa học, nhà trường như thế nào?

  4. Cơ chế chính sách như thế nào để khuyến khích nông dân hưởng ứng đưa nông nghiệp công nghệ cao về ĐBSCL.

  5. Tổ chức nhiều vùng hay tập trung một vùng.

  6. Quy mô triển khai sản xuất, chế biến, bảo quản tiêu thụ nông sản mà nhà đầu tư, nhà nhập khẩu có thể chấp nhận.

  7. Quy mô triển khai sản xuất, chế biến báo quản, tiêu thụ phải đảm bảo chất lượng xuất khẩu.

III. Vấn đề đảm bảo môi trường, đảm bảo sự phát triển bền vững

IV. Vai trò các nhà khoa học.

  • Xây dựng trung tâm công nghệ sinh học ở ĐBSCL.

  • Thành lập 2 trung tâm R.D về cộng nghệ sinh học gồm thực vật và chăn nuôi.

    V. Vấn đề hợp tác hóa để công nghiệp hóa, giữ cho được đất nông nghiệp. Đây là vấn đề của quốc gia.

    VI. Đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao về nông nghiệp.

    VII. Vấn đề quan hệ quốc tế:

Đầu tư vốn, công nghệ để giảm thiểu ô nhiễm môi trường ở sông Cửu Long, sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây. Đề cập đến vấn đề này tôi không đồng tính với việc giải tỏa đất nông nghiệp, đất lúa để lấy đất làm công nghiệp. Đây là chủ trương nửa vời đi ngược lại với Nghị quyết Tam Nông của Trung ương là phải dành đất cho nông nghiệp để đảm bảo anh ninh lương thực của quốc gia và toàn cầu. Đề nghị Bộ Tai chính xem lại chính sách đền bù lúa của Bộ. Tôi đề nghị Thủ tướng lưu ý về vấn đề này.

VIII. Quy mô, kiến trúc xây dựng lưới bao che, nhà lưới cho sản xuất nông nghiệp kỹ thuật cao

  1. Kinh nghiệm của ông Trần Văn Thủy ở Từ Sơn – Bắc Ninh trồng rau hoa theo mô hình công nghệ cao kết quả tăng 20 – 30 lần so với các trồng thông thường trước đó.
  2. Mô hình nông nghiệp công nghệ cao ở Hiệp An huyện Đức Trọng tỉnh Lâm Đồng sản xuất rau, hoa theo kiểu nhà kính rất có hiệu quả hơn sản xuất truyền thống. Đây là thí điểm của Lâm Đồng và sẽ nhân ra diện rộng vì quy mô nông dân có thể sản xuất được đạt hiểu quả và được nông dân đồng tình hưởng ứng. Hiệp An xác định sản xuất theo mô hình công nghệ cao là xu hướng tất yếu của địa phương trong thời gian tới.
  3. Phát triển nông nghiệp công nghệ cao trong quá trình hội nhập:
  1. Để ngành nông nghiệp VN phát triển tốt, sản phẩm đạt chất lượng cao và có khả năng cạnh tranh, một trong những nhiệm vụ quan trọng là phải đề ra chiến lược phát triển ứng dụng khoa học công nghệ ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất.
  2. Khi xây dựng NN CNC phải có bước đi cần thiết.

4.   NN CNC có thể làm bằng vật liệu rẻ tiền:

Thu nhập cao gấp 30 lần so với kiểu canh tác cũ.

Với 200 triệu đồng làm được 1 ha nhà lưới với vật liệu rẻ tiền từ nứa, tầm vông dựng nhà lưới như cách làm của các nông dân Đà Lạt đang ứng dụng.

Ngoài ra có thể xây dựng mô hình NN CNC theo hướng nhỏ lẻ như đưa các giống lai có năng xuất cao vào canh tác.

Phải xây dựng công nghệ nhân giống trong nước với giống hoa, rau chất lượng cao. Phải hoàn thiện được khâu xử lý bảo quản sau thu hoạch cho các sản phẩm CNC.

IX. Mô hình xây dựng khu NN kỹ thuật cao tập trung hay ở diện rộng với giá rẻ, có tài liệu để phổ biến cho nông dân, có thể thực hiện được vấn đề xây dựng nhà máy sản xuất mặt hàng chất lượng cao như Trung Quốc.

X. Kinh nghiệm trong nước và cả nước ngoài cho thấy chỉ có chính sách hỗ trợ việc sản xuất nông nghiệp công nghệ cao của “Lão nông tri điền” lực lượng tham gia Hà Nội, Hải Phòng, Đà Lạt, TP.HCM và các tỉnh ĐBSCL.

Kinh nghiệm đưa công nghệ cao về nông nghiệp của các nước: Nhật, Úc, Mỹ, Thái Lan…

Việc đưa nông nghiệp công nghệ cao vào áp dụng ở ĐBSCL là vấn đề chiến lược nhằm công nghiệp hóa, hiện đại hóa khu vực ĐBSCL.

Cuối cùng chúc hội thảo thành công tốt đẹp.

VSTS Nguyễn Chơn Trung

Viện phó Viện KHCN Phương Nam

Ngày 27/08/2009

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s