NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM KHAI THÁC TIỀM NĂNG THẾ MẠNH VÀ NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG CƠ BẢN ĐỂ PHÁT HUY VÀ SỬ DỤNG CÓ HIỆU QUẢ KINH TẾ TƯ BẢN TƯ NHÂN

I.                   Thực trạng kinh tế, tư bản tư nhân ở thành phố Hồ Chí Minh

Nghị quyết hội nghị Trung ương lần thứ 6 ( 29/3/1989) có đoạn viết: “ Khuyến khích tư nhân đầu tư kinh doanh những nghành nghề lĩnh vực có có lợi cho quốc kế dân sinh, đồng thời đảm bảo sự kiểm soát và điều tiết của nhà nước hướng tư bản tư nhân từng bước đi vào kinh tế hợp tác xã và kinh tế tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức nhằm phát triển sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả kinh tế”.

Trong chiến lược kinh tế năm 1990 – 2000 có nêu rõ: “ Các công ty tư nhân ở nước ta hoạt động dưới sự kiểm soát và điều tiết của nhà nước, có quan hệ liên hệ ở mức độ khác nhau với kinh tế quốc doanh, ít nhiều mang tính chất tư bản nhà nước. Nhà  nước có thể góp vốn cổ phần hoặc cho thuê tài sản, vừa tạo điều kiện thêm sự kiểm soát và tích lũy của nhà nước trong doanh nghiệp tư nhân”.

Để thực hiện Nghị quyết và chủ trương nêu trên sau Đại hội VI, đặc biệt là từ đại hội VII của Đảng đến nay cùng với quá trình thực hiện chiến lược phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, kinh tế tư doanh ở thành phố Hồ Chí Minh đã có những bước phát triển đáng kể bao gồm doanh nghiệp tư doanh, công ty tư doanh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần….Tính đến giữa tháng 6/1996, trên địa bàn thành phố đã có 7.260 doanh nghiệp, trong đó số còn hoạt động 5.000 doanh nghiệp, công ty TNHH 3.932 doanh nghiệp, công ty cổ phần 83 doanh nghiệp, doanh nghiệp tư nhân 3.245 doanh nghiệp hoạt động theo luật doanh nghiệp tư nhân và luật công ty được thành phố cấp giấy phép hoạt động với tổng số vốn đăng ký 23.000 tỷ đồng. Năm 1996 tạo ra gồm 50.000 tỷ đồng doanh thu, nộp ngân sách 12.000 tỷ đồng đã sử dụng trên 135.000 lao động. Chỉ tính riêng số lượng cơ sở đăng ký ở thành phố Hồ Chí Minh băng hai lần Hà Nội và 50 lần  ở Hải Phòng. Quy mô vốn đăng ký kinh doanh bình quân một cơ sở là 749 triệu đồng ( tương đương 150 cây vàng ). Công Ty TNHH có số cơ sở và số vốn đăng ký cao nhất ( chiếm 73 % số cơ sở và 67,3 % số vốn ). Công ty cổ phần, có sổ cơ sở ít hơn ( 83 cơ sở ) nhưng đó là những cơ sở lớn có số vốn cao, bình quân một cơ sở bằng 10 lần công ty TNHH và 30 lần doanh nghiệp tư nhân. Doanh nghiệp tư nhân bình quân vốn một cơ sở là 207 triệu đồng.

Về lĩnh vực hoạt động, nhiều nhất là thương nghiệp, nhà hàng, khách sạn, kế đến là công nghiệp, xây dựng, dịch vụ và vận tải , v.v…. Công ty cổ phần tập trung ở ba nghành chính là ngân hàng, thương nghiệp và công nghiệp. Công ty TNHH quá 63 % số đơn vị hoạt động chính là thương nghiệp, 21 % số đơn vị đăng ký hoạt động công nghiệp và 11 % hoạt động nghành xây dựng, còn lại là các nghành khác chỉ chiếm 5 % doanh nghiệp tư nhân số đông là ở nghành thương nghiệp, dịch vụ 80 %, tiếp theo là công nghiệp 12 % các nghành khác 8 %.

Qua khảo sát thực tế cũng như đáng giá những người có trách nhiệm thì giữa vốn đăng ký kinh doanh và vốn thực tế hoạt động của các doanh nghiệp chênh lệch nhau rất lớn. Ước tính vốn thực tế hoạt động của các doanh nghiệp nhiều hơn vốn đăng ký 5-7 lần, có những doanh nghiệp thậm chí 10 -20 lần

Vấn đề này có thể do một số nguyên nhân sau :

–         Về phía các doanh nghiệp có ý định trốn thuế, cũng có thể là do phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp mở rộng sản xuất, và cũng có thể là do cả hai.

–         Về phía các cơ quan chức năng, việc quản lý còn có những sơ hở hoặc chính sách thuế chưa hợp lý.

Theo số liệu thống kê, một số cơ sở hoạt động hàng năm đều tăng nhanh, nhất là công ty TNHH và doanh nghiệp tư nhân trong hai năm gần đây.

Các doanh nghiệp, công ty tư  nhân đăng ký hoạt động ở nhiều nghành, nhưng tập trung nhiều nhất là sản xuất công nghiệp: 33 %, thương nghiệp 60 % , hai nghành này chiếm tới 83 % số cơ sở và 65 % tổng số vốn, kế đó là các nghành xây dựng, tài chính tín dụng, vận tải, nhà ở. Thấp nhất là nghành nông nghiệp ( 4 cơ sở 600 triệu đồng vốn ) Nghành Lâm nghiệp, bưu điện khoa học, giáo dục, văn hóa, y tế rất ít. Nhiều đơn vị xuất nhập khẩu trực tiếp.

Vốn được tích lũy từ trước, nhưng nguồn vốn này thường chỉ đủ đầu tư cho những doanh nghiệp loại nhỏ. Cơ sở loại khá, vốn lớn thì phần nhiều là có sự góp vốn của nước ngoài vào hỗ trợ cho đầu tư tư nhân thông qua : Thân nhân, bạn bè, quyen biết… đưa vào, với nhiều hình thức : hùn vốn, cho vay trả chậm, cho mượn, giúp đỡ, bằng trừ dần tiền trả công…. Không loại trừ hình thức chuyển ngân lậu. Điều này đặt ra cho ta suy nghĩ để tìm ra biện pháp, cách thức huy động vốn này của nước ngoài một cách có hiệu quả nhất.

Qua điều tra 454 đơn vị từ tổ hợp đến các doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty Cổ phần cho thấy có tới 90 % số máy móc thiết bị  ở tình trạng còn tốt, 2 % tình trạng trung bình, 8 % tình trạng cũ. Máy móc nhập từ nước ngoài chiếm tới 55 % trong đó có 35 % từ các nước phương Tây. Trình độ công nghệ : 26,7 % số doanh nghiệp với công nghệ hiện đại, 11,2 % số doanh nghiệp với trình độ công nghệ cổ truyền và 73 % số doanh nghiệp  kết hợp trình độ công nghệ hiện đại với công nghệ cổ truyền. Hiện nay có tới 50 % các doanh nghiệp tư nhân thành phố có hàng xuất khẩu ra nước ngoài. Qua đó cho thấy, các doanh nghiệp đã tăng cường đầu tư cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.

Trong ba loại hình công ty cổ phần, công ty TNHH thu hút nhiều lao động nhất ( 138 – 182  lao động ). Trong các cơ sở có quy mô doanh thu loại vửa ( 1-10 tỷ đồng/ năm ) đã thu hút gần một nửa sổ lao động hoạt động trong các doanh nghiệp trong nghành. Các cơ sở làm hàng xuất nhập khẩu có số lao động bình quân 250 người, gần bằng số lao động trong các doanh nghiệp quốc doanh thành phố ( XNGD :272 người ) trong đó ở công ty cổ phần 226 người ; công ty TNHH : 275 người, DNTN : 63, có nhiều cơ sở thu hút hàng ngàn lao động. Ngành thương nghiệp tuy có nhiều cơ sở, nhưng số lao động bình quân một cơ sở thấp ( 15,5 người ). Phần lớn các cơ sở có số lao động dưới 10 người ( 45,7 % ), dưới 20 người ( 80 % ) có 13 cơ sở trên 50 người và 23 cơ sở trên 100 người. Trong các công ty tài chính, tín dụng  thì số lao động bình quân 78 người. Như vậy, sự phát triển của các cơ sở tư doanh không chỉ góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng, phát triển của kinh tế, tạo nên những động lực cho nền kinh tế phát triển năng động hiệu quả mà còn góp phần đáng kể vào việc giải quyết  tình hình xã hội nan giải là việc làm cho người lao động.Do đó, sự phát triển của khu vực kinh tế tư  doanh không thuần túy chỉ thể hiện ở hiệu quả kinh tế đầy thuyết phục của nó mà còn hiệu quả kinh tế xã hội nữa.

Mặt được của kinh tế tư bản tư nhân.

  1. Với thành quả bước đầu chứng tỏ nền kinh tế tư bản tư nhân có vị trí vai trò là động lực góp phần quan trọng cho nền kinh tế xã hội khẳng định đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần của Đảng ta là phù hợp, đúng đắn, nó có khả năng góp phần cùng với kinh tế quốc doanh tạo nội lực của nền kinh tế quốc gia.
  2. Ngày càng xuất hiện nhiều doanh nghiệp lớn : có 44 đơn vị trên 100 tỷ đồng vồn kinh doanh ( 21 công ty cổ phần và 23 công ty TNHH; 18 ngân hàng cổ phần, 12 công ty thương nghiệp ), 9 công ty sản xuất công nghiệp, 4 công ty xây dựng và 1 công ty cổ phần vận tải ). Tuy chỉ chiếm 1 % tổng số công ty và doanh nghiệp tư nhân nhưng nó có một vị trí quan trọng: chiếm 14,2 % lao động, 68 % kinh doanh, 52 % vốn chủ sở hữu, 74 % vốn vay và huy động, 33,1 % doanh thu và tạo ra 51 % tổng lãi v.v… ( Theo cục thống kê Thành phố 1996 )

Nếu chúng ta có chính sách tốt hơn, quản lý chặt chẽ hơn sẽ tạo phát triển cho họ phát triển đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.

Mặt chưa được của kinh tế tư bản tư nhân:

–         Đang lưu ý là có 42,1 % giám đốc công ty và doanh nghiệp tư nhân chưa có bằng cấp chuyên môn. Chỉ có 7 % lao động có trình độ trung cấp kỹ thuật , 9,2 % có trình độ đại học, cao đẳng và trên đại học

–         Xu hướng phát triển còn nặng nề thương nghiệp dịch vụ, mà còn coi nhẹ phát triển sản xuất

–         Cơ chế quản lý nhà nước không đồng bộ và các chính sách không ổn định, không nhất quán nên các hoạt động kinh tế tư bản tư nhân còn chịu nhiều rủi ro, khó khăn, hiệu quả thấp, trên 27 % thua lỗ, hoạt động cầm chừng, hoặc phá sản.

–         Một số bộ phận biểu hiện nhiều mặt tiêu cực :

+ Khai man doanh thu để trốn thuế

+ Mua chuộc lũng đoạn cán bộ quản lý nhà nước

+ Mua bán bất động sản trái phép

+ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản XHCN

Nguyên nhân :

–         Bản chất tư bản tư nhân là chạy theo lợi nhuận bằng mọi giá trong khi trình độ chuyên môn lại thấp kém.

–         Quản lý nhà nước vừa gò bó vừa lỏng lẻo, kiểm kê, kiểm soát không chặt chẽ, luật pháp chưa đầy đủ nên còn nhiều khe hở trong quản lý dễ bị lợi dụng

II.               Những giải pháp nhằm khai thác tiềm năng thế mạnh của tư bản và những định hướng cơ bản đê phát huy và sử dụng có hiệu quả kinh tế tư bản tư nhân.

Hiện nay, ở Tp Hồ Chí Minh, các doanh nghiệp của người Hoa trở thành thực lực của nền kinh tế thành phố làm lực lượng đối trọng, đối tác với tư bản bên ngoài. Để làm được điều này cần phải :

–         Quán triệt  đầy đủ quan điểm của Đảng về vị trí người Hoa trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, trong cơ chế XHCN. Đảm bảo cho người Hoa được hưởng  mọi nghĩa vụ  và quyền lợi công dân Việt Nam, tôn trọng văn hóa, chữ viết, tạo điều kiện để bà con yên tâm làm ăn, góp phần xây dựng đất nước. Xây dựng tình đoàn kết chân hòa giữa người Hoa và các dân tộc Việt Nam

–         Phát huy khả năng, tiềm  năng kinh tế của người Hoa, góp phần thực hiện định hướng chiến lược phát triển kinh tế xã hội thành phố, khuyến khích các nhà công thương người Hoa đầu tư phát triển công nghiệp, nông nghiệp  và cơ sở hạ tầng. Khuyến khích người Hoa thu hút đầu tư của nước ngoài thông qua mối quan hệ thân nhân bằng nhiều hình thức liên doanh, hợp tác, kiều hối… theo luật pháp Việt Nam.

–         Nghiên cứu tạo điều kiện để một số cơ sở công thương nghiệp người Hoa mở rộng  thành các công ty cổ phần hoặc các tập đoàn có nhiều tiềm năng lớn và phong phú gồm nhiều  loại hình sở hữu mang tính chất kinh tế CNTBNN. Trên cơ sở đó từng bước đưa vốn doanh nghiệp nhà nước vào các công ty cổ phần, các tập đoàn, đặc biệt là các ngân hàng thương mại cổ phần.

–         Tăng cường kiểm tra giám sát chặt chẽ tạo điều kiện cho tư bản tư nhân người Hoa hoạt động đúng hướng.

–         Phải thành lập tổ chức Đảng và các đoàn thể trong các tổ chức kinh tế người Hoa đảm bảo họ đi đúng hướng theo con đường CHCN. Bên cạnh đó, nhà nước cần đào tạo một đội ngũ cán bộ quản lý KHKT người Hoa.

–         Củng cố tăng cường ban công tác người Hoa để làm tham mưu tốt cho Đảng trong công tác Hoa vận, vừa tham mưu cho chính quyền quản lý nhà nước về kinh tế xã hội của người  Hoa, tập trung ở các quận 5, 11, 6, 8, và quận 10 có đông bà con người Hoa.

Nghành nào tư nhân làm ăn có hiệu quả hơn quốc doanh thì chuyển cho tư nhân. Ngoài việc khuyến khích  tư nhân đầu tư mới , cần giải quyết số 30 % DNQD đã thua lỗ từ lâu, không có khả năng phục hồi, bằng cách bán lại cơ xưởng máy móc cho tư nhân. Nhưng nghành nghề nào đòi hỏi vốn nhỏ ( doanh nghiệp nhỏ ) thì cũng nhường cho tư nhân, có thể tổ chức các xí nghiệp quốc doanh lớn. Cho phép tư nhân được sản xuất kinh doanh trên các nghành công nghiệp, thương mại, xuất khẩu, ngân hàng, … ngoại trừ lĩnh vực quốc phòng an ninh,  hay mặt hàng then chốt nhà nước phải độc quyển sản xuất kinh doanh. Nói chung họ được quyền làm những gì mà nhà nước không cấm trên cơ sở có quy hoạch và kế hoạch nhà nước để ngăn chặn tình trạng phát triển tự phát và tiêu cực. Huy động năng lực kinh tế  tư nhân đi vào sản xuất đổi mới thiết bị  và công nghệ tiên tiến, cơ sở hạ tầng trên cơ sở khuyến khích họ huy động vồn thông qua kiều hối ( vàng, ngoại tệ, nguyên liệu…) Nhà nước cần cho phép tư bản tư nhân liên doanh với kinh tế quốc doanh, làm thí điểm xây dựng khu công nghiệp tập trung sản xuất hàng tiêu dùng và xuất khẩu trên cơ sở huy động vốn trong nước và nước ngoài .

–         Về quy mô phát triển là không hạn chế, họ có thể phát triển ở quy mô lớn trong phạm vi nghành nghề mà phát luật nhà nước cho phép và được tồn tại lâu dài . cho phép xây dựng các tập đoàn kinh tế tư nhân chuyên nghành hay tổng hợp. Phải cho tư bản tư bản tư nhân phát triển theo quỹ đạo quản lý nhà nước nhằm biến họ thành lực lượng kinh tế có khả năng đối đầu, cạnh tranh với tư bản nhà nước ngoài.

–         Cần quan tâm đến tổ chức Đảng và đoàn thể ở các cơ sở kinh tế tư bản tư doanh với nội dung và phương thức thích hợp. Củng cố lại hiệp hội công thương thành phố nhằm đảm bảo giúp nhau thực hiện tốt mọi chủ trương chính đáng của nhà tư bản tư doanh. Đồng thời xây dựng Đảng trong hiệp hội Công Thương nhằm tạo điều kiện lãnh đạo trực tiếp tổ chức này.

Để phát triển đúng mức thành phần này, thành phố cần “

–         Áp dung đúng mức luật khuyến khích đầu tư trong nước, luật công ty và luật kinh tế tư nhân. Cần hoàn thiện sớm luật khuyến khích đầu tư trong nước.

–         Trong ba hình thức công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty tư nhân cần đặc biệt quan tâm đến hình thức cổ phần

–         Sử dụng chính sách thuế hợp lý, công bằng theo nguyên tắc nơi nào nhà nước khuyến khích tư nhân đầu tư nơi đó có chính sách miễn giảm thuế và chính sách tín dụng ưu đãi.

–         Thành lập quỹ bảo trợ các doanh nghiệp ngoài quốc doanh để phòng rủi ro.

–         Cần đưa vốn nhà nước vào các công ty cổ phần, công ty tư nhân có quy mô lớn.

–         Khi cần, trên một số nghành nghề quan trọng và cần thiết nên bố trí Đảng viên, Đoàn viên có đầy đủ năng lực phẩm chất đi vào trong các doanh nghiệp tư bản, tư nhân tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh để có khả năng định hướng lĩnh vực này đi vào quỹ đạo XHCN.

–         Có quy chế tiêu chuẩn Giám đốc, công ty, tất cả đều phải được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ. Nhà nước chỉ cấp giấy phép hoạt động khi nào các công ty bố trí cán bộ đúng tiêu chuẩn qui định

–         Chính quyền các cấp phải thật sự trong sạch vững mạnh đủ năng lực và bản lĩnh để quản lý kinh tế tư bản tư nhân thực hiện sự kê kiểm soát nghiêm ngặt

Tóm lại, có người cho rằng nếu ta cho tư bản tư nhân phát triển tơi mức nào đó họ sẽ trở thành giai cấp tư sản tạo thành lực lượng kinh tế chính trị, điều đó sẽ tạo ra sự bất lợi cho định hướng XHNC.

Theo Lê nin, tư bản nhà nước là sự hoạt động của tư bản tư nhân dưới sự kiểm soát của nhà nước CNXH. Tư bản tư nhân hoạt động có lợi cho quốc kế dân sinh trong giới hạn của XHCN quy định. Như vậy tư bản nhà nước không phải là giai cấp tư bản độc quyển mà chỉ là những nhà tư sản riêng biệt hoạt động trong khuôn khổ nhà nước XHCN. Trong quan hệ với tư bản không phải nhà nước vô sản phụ thuộc vào nhà tư bản mà trái lại chính nhà tư bản phụ thuộc vào nhà nước vô sản ( cả về kinh tế  lẫn chính trị ) và hoạt động trên cơ sở phục vụ cho giai cấp vô sản theo định hướng XHCN.

                                                                                                      TS. Nguyễn Chơn Trung

                                                                                                                              12/7/1997

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s