THAM LUẬN CỦA ĐOÀN ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ TP. HỒ CHÍ MINH TẠI ĐẠI HỘI TOÀN QUỐC. LẦN THỨ VII CỦA ĐẢNG

THAM LUẬN CỦA ĐOÀN ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ
TP. HỒ CHÍ MINH TẠI ĐẠI HỘI TOÀN QUỐC.
LẦN THỨ VII CỦA ĐẢNG

(Do Đồng chí Võ Trần Chí trình bày)

Thưa đoàn Chủ Tịch và các vị khách quốc tế.
Thưa các vị khách quý của Đại hội.
Thưa các đồng chí đại biểu.


Trước hết, cho phép tôi được chuyển đến Đại hội lới chào mừng nồng nhiệt nhất của Đảng bộ và nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh và xin bày to niềm tin sâu sắc của chúng tôi đối với Đại Hội toàn quốc lần thứ VII của Đảng – Đại hội của trí tuệ, đổi mới, dân chủ, kỷ cương, đoàn kết.
Đoàn đại biểu Thành Phố Hồ Chí Minh nhất trí cao với các văn kiện trình Đại hội. Về Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế- xã hội đến năm 2000; Báo cáo chính trị của ban chấp hành Trung ương (khóa VI) về đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội VI là phương hướng nhiệm vụ 5 năm 1991-1995; Báo cáo xây dựng Đảng, sửa đổi điều lệ Đảng và Điều lệ Đảng được sửa đổi.
Những văn kiện này thể hiện sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Le6nin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện cụ thể của cách mạng nước ta, gắn với bối cảnh quốc tế đang chuyển biến rất phức tạp. Đó là cơ sở lý luận và thực tiễn sinh động để tăng cường sự đoàn kết thống nhất của các lực lượng yêu nước, góp phần tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của bạn bè trên thế giới, thúc đẩy sự kết hợp sức mạnh của chính mình với sức mạnh của thời đại trong tình hình mới. Việt Nam ổn định tiếp tục vượt qua cam go, thử thách để tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân ta đã chọn. Đó là niềm vui lớn không chỉ của nhân dân và Đảng Cộng sản Việt Nam, mà của tất cả những ai đã từng ủng hộ, giúp đỗ và gửi gắn niềm tin ở việt Nam.
Cùng với các đoàn Đại biều anh em, đoàn địa biểu chúng ta đã nghiêm túc nghiên cứu và đóng góp ý kiến và các văn kiện trình Đại hội. Hôm nay, chúng tôi xin được phép phát biểu một số ý kiến về vấn đề sau đây:
– Về chủ nghĩa tư bản Nhà nước đối với sự nghiệp xây dựng đất nước trong thời kỳ qua đó tiến độ chủ nghĩa xã hội.
– Về vai trò của các trung tâm trong nền kinh tế hành hóa.
– Một vài suy nghĩ về chỉnh đốn Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Kính thưa Đại hội.
Đưa đất nước Việt Nam chúng ta còn nghèo nàn lạc hậu tiến lên sản xuất của xã hội chủ nghĩa là một vấn đề vô cùng khó khăn và phức tạp. Từ nhiều năm nay, nhất là từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI, Đảng chúng ta đang đi tìm giải đáp cho bài toán đó. Cương lĩnh và chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của Đại Hội VII đẽ đề cập đến chủ nghĩa tư bản Nhà nước. Chúng tôi cho rằng đây là một rong những vấn đề đặc biệt lớn mà chúng ta cần quan tâm nghiên cứu, vân dụng. Lênin và các bật tiền bối cách mạng đã nói: “Muốn co chủ nghĩa xã hội, không những phải có điều kiện chính trị, mà còn phải có các điều kiện chính trị, mà còn phải có điều kiện kinh tế, có kỹ thuật hiện đại được xây dựng trên những phát minh của cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật”. Trong điều kiện của nước Nga đầu thế kỷ 20 còn chậm tiến, Lênin cho rằng: “Các hình thức của chủ nghĩa tư bản Nhà nước là nấc thang trung gian có thể đưa nước Nga vượt qua tình trạng kinh tế- xã hội kém phát triển”. Trong thời Lênin, tiếc rằng tư tưởng của người chưa được thực hiện đầy đủ và chưa đem lại được những hiệu quả cao.
Nước ta chưa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, cho nên sau khi nắm chính quyền, giai cấp công nhân phải phát trển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa đất nước theo hướng hiện đại, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật để tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Chế độ chính trị tiên tiến trước hết phải tạo điều kiện thu hút, khai thác, phát huy một cách có hiệu quả nhất từ chất xám, sức lao động cùng vốn và kỷ thuật hiện đại phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất.
Vận dụng tư tưởng của Lênin, của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay, từ sau Đại hội VI, chúng ta đã bắt thực hiện chủ nghĩa tư bản Nhà nước dưới nhiều hình thức. Chủ nghĩa tư bản Nhà nước, hiểu theo nghĩa hẹp là tất cả những tổ chức kinh tế hình thành và hoạt động trên cơ sở hợp tác, liên doanh, cùng đầu tư giữa tư bản trong nước với cơ sở kinh tế quốc doanh hoặc đối với Nhà nước; hiểu theo nghĩa rộng, là mọi tổ chức kinh tế tư bản tư nhân của trong nước và nước ngoài hoạt động trong điều kiện có sự quản lý và điều tiết theo pháp luật của Nhà nước XHCN.
Với cách hiểu theo nghĩa rộng, chủ nghĩa tư bản nhà nước mà chúng ta đang thực hiện sẽ tạo điều kiện cho chúng ta khai thác tốt tiềm năng to lớn của đất nước về con người và tài nguyên nhanh chóng tiếp cận nền khoa học và công nghệ tiên tiến, nhanh chóng đứng chân trong nền kinh tế thế giới, tạo tiên đề thực hiện chủ nghĩa xã hội mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn cho Cách Mạng Việt Nam, theo cương lĩnh mới của Đảng. Đó cũng là phương thức hiệu quả để chống lại hai thế lực thường xuyên đe dọa một nước vừa giành được độc lập dân chủ tiến lên chủ nghĩa xã hội, từ một điểm xuất phát điểm còn thấp; một là thế lực chủ nghĩa đế quốc luôn tìm cách phục thù, khống chế lũng đoạn, đi đến lật đỗ Nhà nước của giai cấp công nhân; hai là, thế lực to lớn của nền sản xuất hàng hóa nhỏ hàng ngày giờ tự phát dần đến chủ nghĩa tư bản trong một nền kinh tế còn phân tán vè kém phát trển.
Như vây, chủ nghĩa tư bản Nhà nước đối với chúng ta sẽ không chỉ là nấc thanh tung gian, mà còn là phương thức có hiệu quả nhất nhằm phát triển lực lượng sản xuất, tiến hành công nghệ hóa, hiện đại hóa, chuyển từ quan hệ tiền tư bản chủ nghĩa lên chủ nghĩa xã hội. Đó là chính sách lớn của chúng ta nhằm xây dựng đất nước đi lên sản xuất lớn xã hội chủa nghĩa.
Đương nhiên chúng ta cũng hiểu rằng những nhà tư bản nước ngoài đi vào hợp tác làm ăn chủ yếu là vì hai lẽ:
– Việt Nam là đất nước mới, có sự ổn định về chính trị, nguồn lao động dồi dào, giá nhân công thấp, có thể kinh doanh có lãi. Chính sách của Việt Nam đang trên dà cởi mở, mối quan hệ hợp tác của Nhà nước và nhà tư bản được bảo đảm.
– Sự cạnh tranh gây gắt về quyền lợi giữa các tập đoàn tư bản quốc tế thúc đẩy họ phải nhanh chóng đứng chân ở Việt Nam vì lợi nhuận và tương lai của họ. Không chỉ 9ong1 khung ở Việt Nam, các Đông Dương, mà cả trong khu vực Đông Nam A!.
Như vậy, nếu chúng ta có danh sách và có pháp luật đảm bảo quyền lợi chính đáng của họ, người tư sản trong nước và ngoài nước sẽ ha8nghai1 đầu tư và ngày càng có khả năng mở rộng sự đầu tư của họ. Với trình độ khoa học và công nghệ hiên nay, họ hoàn toàn có thể được lợi nhuận cao, lội nhuận siêu ngạch dưới hình thức tư bản Nhà nước theo luật đầu tư của Đảng và Nhà nước ta. Và nhất thiết họ phải đổi mới khoa học và công nghệ để sản phẩm có thể cạnh tranh được trên thị trường thế giới. Với những điều kiện ấy chúng ta sẽ có thêm khả năngđẩy nhanh tốc độ dầu tư và phát triển khoa học – kỹ thuật sớm phát triển lực lượng sản xuất của chúng ta còn đang yếu kém. Vấn đề là chúng ta phải đào tạo kịp thời một đội ngũ cán bộ trí thức, công nhân đủ trình độ và sức tháo vát để tiếp thu cái mới, đủ bản lĩnh chính trị về kinh nghiệm quản lý kinh doanh để không bị sơ hở, hoặc bị một số bọn xấu lừa đảo, như vừa qua Thành Phố Hồ Chí Minh đã mắc phải. Đội ngũ cán bộ, công nhân mới này nhất thiết phải có nhiệt tình và yêu nước, ý chí phát triển quốc gia làm giàu cho đất nước, gắn chặt lợi ít cá nhân, gia đình với lợi ích của Tổ quốc . Trong thời đại hiện nay và trong xu thế phát triển của đất nước Việt Nam, chúng ta rất nhiều điều kiện khách quan thuận lợi đi lên sản xuất lớn, mặc dù chúng ta còn phải đương đầu với nhiều trở lực, cản ngại, như chính sách cấm vận về kinh tế, những khó khăn thủ đoạn chính trị chống Việt Nam.
Mấy năm qua, thực hiện đường lối đổi mới chủ Nghị quyết Đại hội VI, thành phố Hồ Chí Minh đã và đang có nhiều cố gắng để vận dụng những quan điểm kinh tế trên đây. Những hình thức xí nghiệp công tư hợp doanh, trong đó Nhà nước và tư nhân xí nghiệp công tư hợp doanh, trong đó Nhà nước và tư nhân cùng kinh doanh chia lãi, những xí nghiệp quốc doanh cổ phần hóa dưới nhiều hình thức sở hữu hỗn hợp, đan xen nhau, những khu vực đầu tư 100% vốn đầu tư bản nước ngoài. Nhà nước cho thuê xí nghiệp (hoặc có thể sẽ giao cho thuê khu đấy, tài nguyên, v.v…) và hàng loạt đề an hợp tác hai bên, nhiều bên… giữa Nhà nước với Nhà nước, giữa Nhà Nước với tư nhân nước ngoài, trong nước… đang trên đà mở rộng. Kết quả bước đầu tuy còn khiêm tốn nhưng đã cho thấy hình thức tư bản Nhà nước như trên có nhiều triển cọng đáng được nghiên cứu tổng kết và phát triển. Nhưng kết quả đó càng có ý nghĩa khi nó đạt được trong hoàn cảnh nước Việt Nam bị những thế lực thù địch bao vây nền kinh tế suốt 16 năm qua. Trong thời đại cách mạng khoa học- kỹ thuật bùng nỗ, lực lượng sản xuất được quốc tế hóa rộng rãi, thế tương thuộc giữa các nước là một thực tế, những mâu thuẫn giữa các tập đoàn tư bản quốc tế, giữa các khối kinh tế,thế giới phát triển đã càng kéo và hạn chế sự khống chế độc quyền của một đế quốc đầu sỏ so với cách đây nhiều chục năm. Đó là những điều kiện khách quan thuận lợi mới. Quy mô, tốc độ và hiệu quả của chủ nghĩa tư bản Nhà nước sẽ rất lớn nếu chung1ta biết kịp thời rút kinh nghiệp, biết khai thác và khối hợp đồng bộ các điều kiện thuận lợi với các nổ lực đối với chủ quan đúng đắn của chúng ta.
Việc phát triển kinh tế thị trường, nhất là mở cửa làm ăn với bên ngoài tất yếu có những mặt tiêu cực không tránh khỏi bên mặt tích cực; thâm chí mặt tiêu cực có thể phát triển thành nguy cơ, nếu chúng ta không cảnh giác và không giữ được quyền chủ động. Chúng tôi nghĩ rằng trong thực tiễn cuộc sống, không có một thành quả nào mà không phải trả giá. Chúng ta đã trải qua một giai đoạn mở đầu đầy ấu trĩ và thử thách, nhưng đã đứng vững. Nhưng kinh nghiệm thành công và không thành công của thực tiển mấy năm qua đã dạy chúng ta. Đảng ta là một đảng có bản lĩnh chính trị, đội ngũ chúng ta đang được rèn luyện về quan điểm lập trường, đang được nâng cao kiến thức và trình độ quản lý. Với những nhân tố tích cực ấy, chúng ta hoàn toàn tin rằng có thể vượt thử thách và tiến lên.
Cho đến nay, khối lượng đầu tư của nước ngoài trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh khoảng hơn 500 triệu đô-la, đó là dấu hiệu đáng khích lệ. Tuy nhiên phải nhận rằng, quy mô đầu tư và những đề án của một số ngành được cấp giấy phép còn rất khiêm tốn. Sắp tới dưới ánh sáng của cương lĩnh, Chiến lược kinh tế cùng với hệ quan điểm đúng đắn của Nghị quyết Đại hội VII, chúng ta sẽ ra sức hoàn chỉnh hệ thống các chính sách, luật pháp, nhất định các hình thức tư bản Nhà nước sẽ phát triển với quy mô ngày càng lớn, đa dạng và phong phú, không phải chỉ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh mà còn chung cho cả nước, góp phần đặc lức vào sự nghiệp phát triển nên kinh tế theo hướng xã hội chủ nghĩa.
Kính thưa Đại hội.
Đại hội VII của Đảng đã khẳng định quan điểm: “ Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận đông theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước”. Đó là điều cực kỳ quan trọng trong đường lối đổi mới hiện nay, nhưng còn một số điều khác quan trọng không kém, đó là việc nhân thức về mối quan hệ giữ hệ thống kinh tế hàng hóa và các trung tâm của nó và tính chất hai mặt gần như tương phản của nền kinh tế hàng hóa ấy.
Ngược dong lịch sử, trong quá trình hình thành và phát triển nền kinh tế hàng hóa ở Việt Nam, nhiều trung tâm kinh tế đã xuất hiện, trong đó có thành phố Sài Gòn cũ, nay là thành phố Hô Chí Minh; đó là những trung tâm kinh tế hàng hóa của đất nước. Quá trình hình thành các trung tâm ấy có liên quan đến những điều kiện địa lý, thiên nhiên và lịch sử, đồng thời thông qua sự vận độngkhông ngừng của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa mà hội tu và phát triển. Mỗi vùng kinh tế điều có thế mạnh của nó, kinh tế trong nước không lưu thông với nước ngoài thi không thể nào phát huy thế mạnh lẩn nhau được. Thế mạnh đó phát triển nhanh hay chậm là do sự vận động của nền kinh tế từ sản từ sản xuất lưu thông đến tiêu thụ với tốc độ của nó như thế nào. Nó tác động qua lại như là hệ tuần hoàn rộng lớnvà mỗi lần luân chuyển hội tụ càng lớn. Có thể nói tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, năng suất alo động xã hội là tùy thuộc một phần quan trọngvào tốc độ vận hành mang tính quy luật khách quan ấy.
Vì vậy, các trung tâm kinh tế không thể phát triển tự nó và cho nó được mà nó phải phát triển theo nhịp độ chung của nền kinh tế hàng hóa. Nó là nơi hội tụ các loại hình kinh tế phát triển và là nơi biểu hiện thế mạnh tập trung của các vùng và các ngành kinh tê hàng hóa khác nhau. Nó đóng vai trò hội tụ và tỏa ra thông qua năng lực sản xuất và lưu thông có hiệu quả được thừa nhận một cách khách quan.
Cũng cần phải nói thêm là không phải chỉ có kinh tế quốc doanh mà các thành phần kinh tế đều có vai trò đó, tùy theo quy mô lớn nhỏ, mạnh yếu khác nhau của nó.
Thành phố Hồ Chí Minh từ trước là một trung tâm kinh tế của khu vực, cơ chế hành chính tập trung quan liêu bao cấp đã một thời làm cho nó bị què quặt. Sau Đại hội VI và nhất là với Đại hội VII Đảng lần này, chúng ta có cương lĩnh, có chiến lược kinh tế – xã hội, khẳng định quan điểm kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo co’ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, thành phô Hồ Chí Minh có điều kiện phấn đấu thực hiện vai trò khách quan của nó một cách tích cực. Với tư cách là một trung tâm kinh tế hàng hóa, các thành phần kinh tế trên địa bàn Thành phố sẽ không ngừng mỏ’ rộng sự liên doanh, hợp tác đa dạng nhiều chiều vói tất cả mọi noi trọng nước và ngoài nước trên cơ sở hiệu quả và các bên cùng có lợi. Phương hướng phấn đấu là làm cho quá trình hội tụ và tỏa ra với tốc độ ngày càng nhanh, với quy mô ngày càng lớn, với tầm hoạt động ngày càng rộng.
Đương nhiên, sự tác động của các trung tâm không phải chỉ có mặt tích cực, bởi vì nền kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường nhiều thành phần không thể tránh khỏi tính tự phát dữ dội của nó; nhất là dối với chúng ta, nền kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa còn rất rộng lớn.
Chúng ta phải khẩn trương tăng cường các công cụ và năng lực quản ị lý, kịp thòi rút kinh nghiệm, đồng thời phải có các “nắm dấm kinh tế” ‘Ị thì mởi có khả năng ngăn chặn và chế ngự những biểu hiện tiêu cực, : tự phát không thể xem thường. ị
Quản lý của Nhà nước vĩ mô trước hết phải nắm bắt quy luật vận hành của hệ thống kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và vai trò các trung tâm của nó cả về mặt tích cực và tiêu cực. Từ đó đề ra I các định chế, đề ra hệ thống các chính sách, nhất là chính sách tài chính, tiền tệ đến kết cấu hạ tầng… nhằm khơi động mạnh mẽ, thúc ; đẩy mọi tiềm năng của nền kinh tế, đồng thời phải tỉnh táo, dự đoán đúng và kịp thời có những biện pháp vừa giáo dục, vừa cưỡng chế, kiên quyết giáng trả những thủ đoạn gian lận, buôn lậu, đầu co’… là tính tự phát vốn có của kinh tế thị trường nhiều thành phần không tránh khỏi. Kinh nghiệm thực tiễn mấy năm qua đã cho chúng ta nhiều bài học rất sinh động. Mặt kết quả là rất đáng khích lê, nhưng mặt tiêu cực nhiều khi cũng đã làm cho chúng ta rất diêu đứng.
Kính thưa Đại hội,
Đoàn đại biểu Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh rất nhất trí về nội dung đánh giá tình hình Đảng và công tác xây dựng Đảng của Ban Chấp hành Trung ương khóa VI : “Đảng chưa đặt đúng tầm quan trọng của việc chỉnh đốn Đảng theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Phải tạo sự chuyển biến có ý nghĩa cách mạng trong tổ chức và bộ máy các cấp”.
Trong Di chúc, Bác Hồ đã viết: “Việc cần làm trước tiên (sau ngày giải phóngj là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi cán bộ đều ra sức làm tròn nghĩa vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân; làm được như vậy thì dù công việc to lán mấy, khó khăn mấy, chúng ta cũng nhất định thắng lợi”. Tư tưởng của Bác Hồ rất sâu xa, nhưng lời nói của Bác lại rất bình dị, đòi hỏi chúng ta phải có thời gian suy ngẫm mới hiểu được sâu sắc nội dung tiềm ẩn bên trong của tư tưởng đó.
Sự nghiệp cách mạng dân tộc, dân chủ giành được thắng lợi hoàn toàn cũng có nghĩa là chúng ta đã thành công trong công tác xây dựng Đảng trong mấy chục năm qua. Trong quá trình đó, Đảng ta đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu và đã trưởng thành. Điều đó không ai có thê phủ nhận được. Nhưng khi bước vào một chiến lược cách mạng mới – cách mạng xã hội chủ nghĩa, một cuộc cách mạng triệt để nhất, sâu sắc nhất thì tất cả mọi tích lũy, mọi kinh nghiệm đã có, dù cho có phong phú đến dâu cũng đều hoàn toàn chưa đỏ, chưa thể nào đáp ứng được những yêu cầu và những vấn đề mới đặt ra của cách mạng. Bởi vì khi thav đổi một chiến lược rhì từ mục tiêu, đối tượng., đường lối, sách lược, tổ chức, phương pháp đểu không thể hoàn toàn giữ nguvên như cũ. Những đòi hối của Đảng đối với đảng viên trong tình hình mói, những thử thách trong cuộc chiến đấu mói mà trong’ cách mạng dân tộc – dân chủ, đảng viên chưa từne; gặp phải, đã làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, một số không ít đã tố ra hạt hẫng, thiếu bản lĩnh trên nhiều mặt, đặc biệt lồ sự va chạm đối dầu với những’ lợi ích vật chất, trong khi đa số đảng viên chúng ta là những người đã có công trạng, có cả quyền hành, phần đông lại xuất thân từ thành phần tiểu tư sản thành thị và nông thôn. Do đó những yếu tố tự phát rất khó tránh khỏi của người đảng viên trong tình hình mới. Rõ ràng khi bắt đầu một chiến lược cách mạng mới…, chúng ta đã thiếu một sự chuẩn bị cần thiết để cho đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ sức vượt aưa những tình huống, những trận địa, những cạm bẫy cực kv phức tạo và khó khăn, phải trả giá bằng cả phẩm chất, nấng lực và bản lĩnh chính trị. Mặt khác, trong một thòi gian dài trưởc đây, cơ chế hành chính quan liêu bao cấp đã làm cho người đảng viên thụ động, ỷ lại, dựa dẫm quvền hành, mất sức chiến đấu, làm hạn chế tính năng động, sáng tạo – vốn là đặc trưng của một Dẳng tiên phong. Đó chính là nguyên nhân sâu xa nhất làm cho đội ngũ đổng viên chúng ta đông mà không mạnh, đảng viên nhiều mà chất lượng không cao, nhiều đảng viên thoái hóa, biến chất, nhiều đảng viên trung bình thậm chí có cả đáng’ viên không hơn quần chúng cả về phẩm chất và ý thức chính trị.
Đại hội VII lần này của Đảng đã đề ra Cương lĩnh, Chiến lược kinh tế – xã hội và các nhiệm vụ chính trị tiếp tục nâng cao công cuộc đổi mới. Một điều phải khẳng định dứt khoát tiếp theo, đó là phải 1 xây đựng một Đảng vững mạnh, đủ sức làm tròn sứ mạng lịch sử, lãnh đạo xây dựng thành công đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội như Cương lĩnh đã nêu.
Để làm được diều đó, việc chỉnh đốn Đảng, xây dựng Đảng, đối mới phương thức hoạt động của Đảng ta hiện nay phải là sự nghiệp ‘lổn lao, vừa cấp bách, vừa lâu dài. Đảng bộ thành phô” Hồ Chí Minh thi hành chủ trương của Trung ương về củng cố Đảng, lầm trong sạch hóa đội ngũ đảng viên đã có một số kết quả và kinh nghiệm ban đầu theo hương chỉnh đốn Đảng. Nhưng so với yêu cầu của Đại hội lẩn này thì còn phải nỗ lực phấn đấu cật lực hơn nữa, không phải là một dẹt, cũng không phải là một năm, mà phải là một sự nghiệp có tầm chiến lược nối tiếp nhiều thế hệ.
Công việc quan trọng có ý nghĩa quyết định trong công tác xây dựng Đảng hiện nay là phải khẩn trương đào tạo mói, đào tạo lại, phát động toàn Đảng dấy lên một ý chí, một phong trào tự học, tự rèn luyện, từ lập trường quan điểm của giai cấp công nhân đến những kiến thức khoa học và quản lý… làm cho tất cả đảng viên phải thật sự có ý thức tự giác, tự chỉnh đôn mình; triệt để chống tính tự mãn và tự phát một cách không mệt mỏi. Có như vậy, Cương lĩnh của Đảng, Chiến lược kinh tế – xã hội và các Nghị quyết lần này của Đại hội VII mới có co’ sở thực hiện, mởi có điều kiện để đưa vào cuộc sông, biến thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy công cuộc đổi mói đạt được những thành quả to lớn hơn nữa, có thể nói rằng trong bất cứ tình huống nào, chúng ta cũng phải hạ quyết tâm xây dựng Đảng ta mãi mãi là một Đảng Mác xít -Lêninnít khoa học và sáng tạo, một Đảng Hồ Chí Minh bất diệt.
Thay mặt Đảng bộ và các giới đồng bào thành phố, đoàn Đại biểu thành phố Hồ Chí Minh chân thành chúc sức khoẻ các đồng chí đại biểu và chúc Đại hội thành công.
Xỉn cám ơn các đồng chí và các bạn !

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s